Cổ phiếu là gì, mua cổ phiếu là mua cái gì?
Mua cổ phiếu là mua phần nào của doanh nghiệp?
Muốn xem số thật trước khi đọc tiếp? Bảng giá cập nhật 15 phút một lần.
Mở bảng giá hôm nay →Cổ phiếu không chỉ là một mã nhấp nháy trên bảng giá. Phía sau mỗi cổ phiếu là một phần vốn của công ty cổ phần.
Nói chính xác hơn, cổ phần là đơn vị chia nhỏ vốn sở hữu của doanh nghiệp. Cổ phiếu là bằng chứng xác nhận người nắm giữ sở hữu cổ phần đó. Ngày nay bằng chứng này thường được ghi nhận điện tử trong tài khoản chứng khoán, không nhất thiết tồn tại dưới dạng tờ giấy.
Khi mua cổ phiếu đang được giao dịch trên thị trường, tiền thường chuyển cho cổ đông bán lại cổ phiếu, chứ không đi thẳng vào tài khoản doanh nghiệp. Quyền sở hữu vẫn được chuyển từ người bán sang người mua.
Trường hợp doanh nghiệp phát hành cổ phiếu mới thì khác. Tiền của người mua được đưa vào doanh nghiệp theo phương án phát hành. Đổi lại, tổng số cổ phiếu lưu hành có thể tăng lên.
Phần sở hữu được tính như thế nào?
Tỷ lệ sở hữu được tính bằng số cổ phiếu đang nắm giữ chia cho tổng số cổ phiếu của doanh nghiệp.
Giả sử một công ty có 1.000.000 cổ phiếu đang lưu hành. Bạn sở hữu 1.000 cổ phiếu thì tỷ lệ sở hữu theo phép tính đơn giản là:
1.000 chia 1.000.000 bằng 0,1%
Tỷ lệ 0,1% không có nghĩa bạn được mang về 0,1% tiền mặt, nhà xưởng hoặc xe của công ty. Tài sản thuộc về pháp nhân doanh nghiệp. Cổ đông sở hữu một phần doanh nghiệp và thực hiện quyền thông qua đại hội cổ đông, biểu quyết, cổ tức cùng những cơ chế được pháp luật và điều lệ quy định.
Nếu công ty phát hành thêm 250.000 cổ phiếu, tổng số tăng từ 1.000.000 lên 1.250.000 cổ phiếu. Nếu bạn vẫn giữ 1.000 cổ phiếu, tỷ lệ sở hữu còn:
1.000 chia 1.250.000 bằng 0,08%
Đây là pha loãng tỷ lệ sở hữu. Số cổ phiếu trong tài khoản không giảm, nhưng phần trăm sở hữu giảm vì tổng số phần được chia đã nhiều hơn.
Pha loãng không tự động có nghĩa doanh nghiệp tốt hơn hoặc xấu đi. Điều quan trọng là doanh nghiệp phát hành với điều kiện nào, thu được bao nhiêu vốn và sử dụng số vốn đó ra sao.
Trong trường hợp thông thường, cổ đông chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn đã góp. Nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, giá trị khoản sở hữu có thể giảm rất sâu, nhưng cổ đông không tự động phải lấy tài sản cá nhân trả toàn bộ nợ của công ty.
Cổ đông có những quyền gì?
Quyền cụ thể phụ thuộc loại cổ phiếu, điều lệ doanh nghiệp, nghị quyết phát hành và pháp luật tại từng thời điểm. Với cổ phiếu phổ thông, các quyền cốt lõi thường gồm:
- Nhận cổ tức: Cổ đông có thể nhận một phần lợi nhuận được phép phân phối nếu doanh nghiệp quyết định chia cổ tức. Cổ tức có thể bằng tiền, bằng cổ phiếu hoặc hình thức hợp lệ khác. Có lợi nhuận không đồng nghĩa doanh nghiệp bắt buộc phải chia toàn bộ, vì lợi nhuận còn có thể được giữ lại cho hoạt động kinh doanh.
- Biểu quyết: Cổ đông phổ thông thường có quyền dự họp, phát biểu và bỏ phiếu đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền đại hội cổ đông. Nguyên tắc quen thuộc là 1 cổ phần phổ thông có 1 phiếu biểu quyết, nhưng cách bầu thành viên quản trị hoặc một số trường hợp đặc biệt có thể áp dụng cơ chế khác.
- Nhận phần còn lại khi giải thể: Sau khi doanh nghiệp thanh toán nợ, thuế, chi phí giải thể và các nghĩa vụ có thứ tự ưu tiên cao hơn, phần tài sản còn lại mới được phân chia cho cổ đông. Cổ đông phổ thông thường đứng gần cuối thứ tự này.
- Tiếp cận một số thông tin: Cổ đông có quyền xem hoặc yêu cầu cung cấp những tài liệu nhất định theo luật và điều lệ. Đây không phải quyền mở mọi hồ sơ mật hoặc can thiệp tùy ý vào hoạt động hằng ngày.
- Chuyển nhượng cổ phần: Cổ phiếu phổ thông nhìn chung có thể được chuyển nhượng, nhưng vẫn có ngoại lệ do pháp luật, điều lệ, thời hạn hạn chế hoặc tình trạng giao dịch của cổ phiếu.
- Tham gia đợt phát hành: Trong một số đợt chào bán, cổ đông hiện hữu có thể được quyền mua thêm theo tỷ lệ sở hữu. Nếu không thực hiện, tỷ lệ sở hữu có thể bị pha loãng.
Quyền biểu quyết cũng không đồng nghĩa mỗi cổ đông đều có thể điều hành công ty. Người sở hữu 10 cổ phiếu và người sở hữu 10.000.000 cổ phiếu đều là cổ đông, nhưng sức ảnh hưởng trong biểu quyết rất khác nhau.
Quyền nhận phần còn lại khi giải thể cũng dễ bị hiểu quá mức. Giả sử hoàn toàn minh họa một doanh nghiệp có tài sản thanh lý được 120 tỷ đồng, nợ phải trả 85 tỷ đồng, chi phí giải thể 5 tỷ đồng và nghĩa vụ ưu tiên 10 tỷ đồng. Phần còn lại cho cổ đông phổ thông là:
120 tỷ trừ 85 tỷ, trừ 5 tỷ, trừ 10 tỷ, còn 20 tỷ đồng
Nếu có 2.000.000 cổ phiếu phổ thông, phép chia giả định cho ra 10.000 đồng mỗi cổ phiếu. Nhưng nếu tài sản chỉ thanh lý được 95 tỷ đồng trong khi tổng nghĩa vụ là 100 tỷ đồng, cổ đông phổ thông có thể không còn phần nào để nhận.
Cổ phiếu sinh lời bằng hai đường
Đường thứ nhất là cổ tức. Đây là phần giá trị doanh nghiệp phân phối cho cổ đông theo quyết định hợp lệ. Cổ tức tiền mặt tạo ra dòng tiền thực nhận. Cổ tức bằng cổ phiếu làm tăng số cổ phiếu, nhưng không tự động làm tổng tài sản của cổ đông tăng đúng bằng số cổ phiếu mới.
Đường thứ hai là chênh lệch giá. Nếu giá bán cao hơn giá mua, nhà đầu tư có khoản chênh lệch dương. Nếu giá bán thấp hơn giá mua, khoản chênh lệch là âm. Khi chưa bán, phần thay đổi đó thường được gọi là lãi hoặc lỗ chưa thực hiện.
Ví dụ dưới đây dùng toàn bộ số giả định, chưa tính thuế, phí giao dịch và các chi phí khác.
Giả sử mua 200 cổ phiếu với giá 40.000 đồng mỗi cổ phiếu. Tổng tiền ban đầu là 8.000.000 đồng. Trong thời gian nắm giữ, doanh nghiệp trả cổ tức tiền mặt 1.200 đồng mỗi cổ phiếu.
| Tình huống | Phép tính giả định | Kết quả |
|---|---|---|
| Cổ tức | 200 × 1.200 đồng | 240.000 đồng |
| Bán ở 44.000 đồng | 200 × 4.000 đồng | Lãi giá 800.000 đồng |
| Tổng trước chi phí | 240.000 + 800.000 đồng | 1.040.000 đồng |
| Tỷ lệ trên vốn gốc | 1.040.000 ÷ 8.000.000 | 13% |
Nếu giá bán giả định chỉ là 36.000 đồng, phần chênh giá sẽ âm 800.000 đồng. Cộng thêm 240.000 đồng cổ tức, kết quả trước thuế và phí vẫn âm 560.000 đồng, tương đương âm 7% trên vốn ban đầu.
Ví dụ cho thấy có cổ tức không bảo đảm toàn bộ khoản nắm giữ có kết quả dương. Ngược lại, một doanh nghiệp chưa chia cổ tức vẫn có thể giữ lợi nhuận để tái đầu tư. Việc giữ lại đó chỉ tạo thêm giá trị cho cổ đông nếu doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả.
Cổ tức cũng không phải tiền xuất hiện từ bên ngoài. Khi doanh nghiệp trả 240.000 đồng cho cổ đông trong ví dụ, lượng tiền thuộc doanh nghiệp giảm tương ứng trước khi xét các yếu tố khác. Vì vậy, giá tham chiếu vào ngày giao dịch không hưởng quyền thường được điều chỉnh theo quy tắc của thị trường.
Có thể đọc sâu hơn tại bài giải thích cổ tức và dùng công cụ tính để tự thay giá mua, giá bán, số lượng cùng khoản tiền nhận được.
Vì sao giá cổ phiếu thay đổi mỗi ngày?
Giá giao dịch hình thành khi lệnh mua gặp lệnh bán. Một người muốn mua ở 49.900 đồng chưa chắc khớp với người chỉ đồng ý bán ở 50.000 đồng. Khi có người chấp nhận mức 50.000 đồng, giao dịch mới hình thành ở mức đó.
Giả sử bên bán đặt 1.000 cổ phiếu tại 50.000 đồng và bên mua chấp nhận 300 cổ phiếu. Giá khớp của 300 cổ phiếu có thể trở thành giá giao dịch gần nhất. Điều đó không có nghĩa toàn bộ cổ phiếu của công ty vừa được mua bán, hoặc doanh nghiệp vừa nhận được số tiền tương ứng.
Giá thay đổi vì người mua và người bán liên tục đánh giá lại giá trị của phần sở hữu:
- Kết quả kinh doanh và khả năng tạo tiền trong tương lai thay đổi.
- Chi phí nguyên liệu, tiền lương, lãi vay, thuế và nợ làm thay đổi phần giá trị có thể còn lại cho cổ đông.
- Doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu, mua lại cổ phiếu, chia cổ tức hoặc thay đổi cơ cấu vốn.
- Lãi suất và mức độ bất định thay đổi số tiền mà thị trường chấp nhận trả cho lợi nhuận tương lai.
- Lượng người muốn mua và lượng người muốn bán không cân bằng tại cùng một mức giá.
- Thông tin mới có thể được mỗi người hiểu khác nhau, nên cùng một báo cáo vẫn tạo ra nhiều mức định giá.
Giá trên bảng là giá của giao dịch ở phần rất nhỏ đang được trao đổi. Vốn hóa thị trường thường được tính bằng giá cổ phiếu nhân với tổng số cổ phiếu lưu hành. Vốn hóa không phải số tiền mặt doanh nghiệp đang có và cũng không bảo đảm một cổ đông lớn có thể bán toàn bộ cổ phiếu ở đúng mức giá đang hiển thị.
Với lệnh lớn, những mức giá chào mua gần nhất có thể không đủ khối lượng. Người bán phải chấp nhận nhiều mức giá khác nhau hoặc chờ thêm người mua. Đây là lý do giá nhìn thấy và số tiền thực nhận khi bán một lượng lớn có thể khác nhau.
Người đọc có thể theo dõi dữ liệu tại trang chứng khoán, nhưng bảng giá chỉ phản ánh giao dịch thị trường, không thay thế việc đọc báo cáo và tài liệu doanh nghiệp.
Cổ phiếu phổ thông khác cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu phổ thông là loại quen thuộc nhất. Người nắm giữ hưởng phần giá trị còn lại của doanh nghiệp sau các nghĩa vụ và thường có quyền biểu quyết.
Cổ phiếu ưu đãi là tên gọi chung cho nhóm cổ phần có một quyền lợi hoặc điều kiện đặc biệt. Có loại ưu đãi về cổ tức, biểu quyết hoặc hoàn lại. Vì thế không thể thấy chữ ưu đãi rồi mặc định mọi loại đều trả cổ tức cố định hoặc đều có quyền biểu quyết cao hơn.
| Điểm so sánh | Phổ thông | Ưu đãi |
|---|---|---|
| Biểu quyết | Thường có quyền biểu quyết | Tùy loại và điều kiện phát hành |
| Cổ tức | Phụ thuộc kết quả và quyết định phân phối | Có thể theo cơ chế ưu tiên đã quy định |
| Khi giải thể | Nhận sau các nghĩa vụ ưu tiên | Có thể được xếp trước phổ thông |
| Khả năng chuyển nhượng | Thường linh hoạt hơn | Có thể kèm hạn chế |
| Điều cần đọc | Điều lệ và nghị quyết | Toàn bộ điều khoản ưu đãi |
Từ ưu đãi không có nghĩa rủi ro biến mất. Nếu doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán hoặc điều khoản phát hành có giới hạn, quyền lợi thực tế vẫn có thể thấp hơn kỳ vọng.
Cũng cần phân biệt cổ phiếu ưu đãi với trái phiếu. Cổ phiếu thể hiện quyền sở hữu. Trái phiếu về cơ bản thể hiện quan hệ vay nợ. Chủ nợ thường được thanh toán trước cổ đông khi doanh nghiệp giải thể, nhưng thứ tự chính xác còn phụ thuộc tài sản bảo đảm, điều khoản và pháp luật.
Những trường hợp đặc biệt dễ bị bỏ qua
Mua trên thị trường thứ cấp: Người mua trả tiền cho người bán cổ phiếu. Doanh nghiệp không trực tiếp nhận khoản tiền này. Tuy nhiên, người mua vẫn trở thành chủ sở hữu sau khi giao dịch được hoàn tất và ghi nhận hợp lệ.
Mua trong đợt phát hành mới: Tiền được đưa vào doanh nghiệp theo phương án phát hành. Tổng số cổ phiếu có thể tăng, làm thay đổi tỷ lệ của cổ đông cũ.
Chưa đến ngày được ghi nhận quyền: Việc đang nhìn thấy cổ phiếu trong tài khoản không phải lúc nào cũng đủ để nhận một quyền đã công bố. Quyền phụ thuộc ngày giao dịch, ngày đăng ký cuối cùng, quá trình thanh toán và quy định áp dụng cho sự kiện đó.
Nhận cổ tức bằng cổ phiếu: Giả sử đang có 100 cổ phiếu và được nhận thêm 20 cổ phiếu, tổng số thành 120 cổ phiếu. Nếu tất cả cổ đông đều nhận theo cùng tỷ lệ, phần trăm sở hữu của mỗi người về cơ bản không tự tăng. Giá tham chiếu còn được điều chỉnh, nên 20 cổ phiếu mới không phải một khoản giá trị xuất hiện miễn phí.
Doanh nghiệp mua lại hoặc hủy cổ phiếu: Tổng số cổ phiếu lưu hành có thể giảm. Nếu một cổ đông vẫn giữ nguyên số lượng, tỷ lệ sở hữu của họ có thể tăng về mặt toán học, nhưng giá trị thực tế vẫn phụ thuộc số tiền doanh nghiệp đã bỏ ra và tình hình sau giao dịch.
Cổ phiếu bị hạn chế giao dịch hoặc mất thanh khoản: Quyền sở hữu có thể vẫn tồn tại trong khi việc tìm người mua trở nên khó khăn. Giá niêm yết gần nhất không bảo đảm bán được ngay.
Doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản: Cổ đông phổ thông chỉ nhận phần còn lại sau khi xử lý các nghĩa vụ đứng trước. Phần còn lại có thể bằng 0 đồng, dù sổ sách trước đó từng ghi nhận nhiều tài sản.
Bốn khái niệm cần nối với nhau
Cổ tức giải thích cách doanh nghiệp phân phối một phần giá trị cho cổ đông. Cổ tức phải được nhìn cùng nguồn tiền, ngày hưởng quyền và việc điều chỉnh giá. Phần này được trình bày riêng trong bài cổ tức.
VN-Index là một chỉ báo diễn biến của một nhóm cổ phiếu theo phương pháp tính nhất định. Chỉ số tăng hoặc giảm không có nghĩa mọi cổ phiếu đều biến động giống nhau. Có thể xem cách đọc chỉ số tại bài VN-Index.
Ba sàn khác nhau về nơi tổ chức giao dịch, nhóm doanh nghiệp và một số quy tắc áp dụng. Việc cổ phiếu ở đâu không thay đổi bản chất rằng người mua đang sở hữu một phần doanh nghiệp. Phần phân biệt nằm tại bài về ba sàn.
Các loại lệnh quyết định cách yêu cầu mua hoặc bán được đưa vào hệ thống. Lệnh không làm thay đổi giá trị doanh nghiệp, nhưng ảnh hưởng mức giá và khả năng khớp thực tế. Xem tiếp bài về các loại lệnh.
Hiểu lầm hay gặp
Cổ phiếu chỉ là con số để mua đi bán lại. Không đúng. Con số trên bảng đại diện cho một phần sở hữu có quyền và nghĩa vụ đi kèm. Giao dịch chỉ là cách quyền sở hữu được chuyển từ người này sang người khác.
Có cổ tức là được thêm tiền miễn phí. Không đúng. Cổ tức tiền mặt lấy từ nguồn lực của doanh nghiệp. Sau ngày chốt quyền, giá tham chiếu thường được điều chỉnh. Tổng kết quả phải tính cả tiền nhận được, thay đổi giá, thuế và phí.
Sở hữu cổ phiếu nghĩa là được dùng tài sản công ty. Không đúng. Cổ đông sở hữu cổ phần của pháp nhân, không trực tiếp sở hữu từng chiếc máy, căn phòng hoặc khoản tiền trong két. Việc sử dụng tài sản do bộ máy quản trị và điều hành thực hiện theo thẩm quyền.
Ranh giới cần biết trước khi áp dụng
Các con số trong bài đều là ví dụ giả định để giải thích cơ chế, không phải giá của một cổ phiếu cụ thể. Giá, thuế, phí, thời gian thanh toán và quy tắc hưởng quyền có thể thay đổi.
Quyền của một cổ đông còn phụ thuộc loại cổ phần, điều lệ, nghị quyết, bản công bố thông tin và quy định có hiệu lực tại thời điểm phát sinh. Với tranh chấp quyền sở hữu, thừa kế, hạn chế chuyển nhượng, thuế hoặc thanh lý doanh nghiệp, cần tra văn bản chính thức hoặc hỏi cơ quan và người có chuyên môn phù hợp.
Bài viết giải thích bản chất cổ phiếu, không đánh giá doanh nghiệp cụ thể và không đưa ra chỉ dẫn giao dịch.
Hỏi nhanh
Mua 1 cổ phiếu có trở thành chủ doanh nghiệp không?
Có, theo nghĩa bạn là cổ đông sở hữu một phần rất nhỏ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, 1 cổ phiếu thường chỉ tạo ra quyền biểu quyết và quyền kinh tế rất nhỏ, không biến người sở hữu thành người trực tiếp điều hành công ty.
Không bán cổ phiếu thì có sinh lời được không?
Có thể nhận cổ tức nếu doanh nghiệp quyết định phân phối và bạn đáp ứng điều kiện hưởng quyền. Phần giá tăng khi chưa bán chỉ là chênh lệch chưa thực hiện; số tiền thực nhận còn phụ thuộc giá bán, khả năng khớp, thuế và phí.
Doanh nghiệp phá sản thì cổ đông được nhận gì?
Cổ đông chỉ nhận phần tài sản còn lại sau khi các khoản nợ, thuế, chi phí xử lý và quyền ưu tiên được thanh toán. Nếu không còn tài sản dư, phần nhận của cổ đông phổ thông có thể là 0 đồng.
- Trái phiếu là gì, khác cổ phiếu chỗ nào?
- Cách tính thuế cổ tức bằng cổ phiếu? Giải thích dễ hiểu kèm ví dụ
- Quy định chia cổ tức bằng cổ phiếu? Giải thích dễ hiểu kèm ví dụ
- Quy định về cổ phiếu bị hạn chế giao dịch? Hiểu đúng trong 3 phút
- Cổ tức là gì? Tiền mặt, cổ phiếu và ngày chốt quyền
- Quỹ mở là gì, chứng chỉ quỹ mua thế nào?
Xem bảng giá vàng, bạc và tỷ giá mới nhất, cập nhật 15 phút một lần.
Mở bảng giá hôm nay →