Trái phiếu là gì, khác cổ phiếu chỗ nào?
Hiểu trong 30 giây
Muốn xem số thật trước khi đọc tiếp? Bảng giá cập nhật 15 phút một lần.
Mở bảng giá hôm nay →Cơ chế của trái phiếu là gì?
Trái phiếu thường được gọi là giấy ghi nợ. Chữ giấy không có nghĩa lúc nào cũng tồn tại một tờ giấy cầm tay. Ngày nay, quyền sở hữu có thể được ghi nhận bằng dữ liệu điện tử tại đơn vị đăng ký hoặc lưu ký.
Cơ chế của trái phiếu có 4 bên hoặc nhóm quyền lợi chính:
- Tổ chức phát hành nhận tiền và trở thành người đi vay. Bên phát hành có thể là Chính phủ, chính quyền địa phương hoặc doanh nghiệp.
- Người sở hữu trái phiếu giao tiền và trở thành chủ nợ.
- Điều khoản trái phiếu quy định mệnh giá, ngày đáo hạn, cách tính lãi, lịch thanh toán, tài sản bảo đảm và các trường hợp mua lại trước hạn.
- Nguồn trả nợ đến từ ngân sách hoặc dòng tiền của bên phát hành, không tự sinh ra chỉ vì chứng khoán mang tên trái phiếu.
Nếu doanh nghiệp phát hành 1.000 trái phiếu, mỗi trái phiếu có mệnh giá giả định 1.000.000 đồng, doanh nghiệp huy động được 1.000.000.000 đồng trước khi trừ chi phí phát hành. Người mua không mặc nhiên sở hữu nhà máy, hàng hóa hay 1 phần vốn của doanh nghiệp. Họ có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ nợ theo hồ sơ phát hành.
Cổ phiếu hoạt động khác. Công ty nhận vốn góp và phát hành các phần sở hữu. Người giữ cổ phiếu là cổ đông. Cổ đông phổ thông thường có quyền biểu quyết, quyền nhận cổ tức nếu doanh nghiệp quyết định chia và quyền hưởng phần tài sản còn lại sau khi toàn bộ nghĩa vụ đã được thanh toán.
Đây là nguyên nhân sâu xa khiến quyền lợi khác nhau. Chủ nợ có yêu cầu thanh toán theo hợp đồng. Chủ sở hữu nhận kết quả còn lại, nên mức được hưởng không cố định và cũng không có ngày hoàn vốn bắt buộc như ngày đáo hạn của một trái phiếu thông thường.
Trái phiếu và cổ phiếu khác nhau thế nào?
| Tiêu chí | Trái phiếu | Cổ phiếu |
|---|---|---|
| Bản chất | Khoản cho vay | Phần sở hữu |
| Người nắm giữ | Chủ nợ | Cổ đông |
| Nguồn tiền nhận về | Gốc, lãi và khoản khác theo điều khoản | Cổ tức nếu được chia, tiền bán cổ phiếu |
| Thời hạn | Thường có ngày đáo hạn | Thường không có ngày đáo hạn |
| Quyền biểu quyết | Thông thường không có | Cổ phiếu phổ thông thường có |
| Khi công ty phá sản | Chủ nợ được xem xét thanh toán trước cổ đông | Nhận phần còn lại sau các nghĩa vụ |
| Mức dao động giá | Thường thấp hơn nhưng vẫn có thể biến động mạnh | Thường biến động lớn hơn |
| Kết quả nhận được | Phụ thuộc khả năng trả nợ và điều khoản | Phụ thuộc hoạt động công ty và giá thị trường |
Cụm từ thường thấp hơn không có nghĩa mọi trái phiếu đều ít biến động hơn mọi cổ phiếu. Trái phiếu sắp đáo hạn của một bên vay khỏe có thể khá ổn định. Trái phiếu dài hạn, khó bán hoặc do bên vay gặp khó khăn phát hành có thể giảm giá mạnh.
Cổ tức cũng không phải tiền lãi bắt buộc. Doanh nghiệp có lợi nhuận vẫn có thể giữ lại tiền để hoạt động nếu quyết định hợp lệ. Ngược lại, khoản lãi trái phiếu đã đến hạn là nghĩa vụ phải thực hiện, trừ khi điều khoản cho phép hoãn hoặc các bên chấp thuận phương án khác.
Có thể theo dõi bối cảnh cổ phiếu tại trang chứng khoán, nhưng giá thị trường không thay thế hồ sơ pháp lý của từng mã.
Vì sao trái phiếu không phải lúc nào cũng an toàn?
An toàn tới đâu là do người đi vay, dòng tiền và điều khoản bảo vệ chủ nợ, không do cái tên trái phiếu.
Một giấy ghi nợ chỉ có giá trị kinh tế khi người đi vay có khả năng và ý thức thực hiện nghĩa vụ. Nếu doanh nghiệp không tạo đủ tiền, tài sản đã bị ràng buộc hoặc hồ sơ bảo đảm có vấn đề, chữ trái phiếu không tự bảo vệ được tiền gốc.
Các rủi ro cần tách riêng gồm:
- Rủi ro tín dụng là khả năng bên phát hành trả chậm, trả thiếu, phải cơ cấu nợ hoặc mất khả năng thanh toán.
- Rủi ro thanh khoản xuất hiện khi người giữ muốn bán nhưng ít người mua. Giá chào trên giấy chưa chắc là mức có thể bán được với khối lượng lớn.
- Rủi ro lãi suất xảy ra khi mặt bằng lãi trên thị trường thay đổi. Trái phiếu trả khoản cố định có thể trở nên kém hoặc hấp dẫn hơn tương đối.
- Rủi ro lạm phát là việc tiền gốc và lãi vẫn được trả đủ về danh nghĩa nhưng sức mua thực tế thấp đi.
- Rủi ro điều khoản đến từ quyền mua lại trước hạn, quyền gia hạn, điều kiện chuyển đổi hoặc cách xác định lãi suất thả nổi.
- Rủi ro tiền tệ có thể xuất hiện nếu khoản nợ và nhu cầu chi tiêu dùng 2 đồng tiền khác nhau. Có thể xem biến động tại trang tỷ giá.
Có tài sản bảo đảm cũng không đồng nghĩa sẽ thu đủ tiền. Cần biết tài sản nào được dùng, giá trị được xác định vào thời điểm nào, đã bảo đảm cho nghĩa vụ khác chưa, ai giữ hồ sơ và việc xử lý có khả thi hay không. Một tài sản được định giá 100 tỷ đồng lúc phát hành có thể không bán được đúng 100 tỷ đồng khi cần xử lý.
Việc trái phiếu được phân phối qua ngân hàng hoặc công ty chứng khoán cũng không tự biến khoản nợ của doanh nghiệp thành nghĩa vụ trả thay của đơn vị phân phối. Muốn biết có bảo lãnh thanh toán hay không phải đọc đúng văn bản quy định phạm vi bảo lãnh.
Ví dụ tính dòng tiền bằng số
Giả sử hoàn toàn để minh họa, một trái phiếu có mệnh giá 1.000.000 đồng, thời hạn 3 năm, trả lãi 8 phần trăm mỗi năm và thanh toán lãi 1 lần vào cuối mỗi năm. Một người mua 10 trái phiếu đúng mệnh giá sẽ bỏ ra 10.000.000 đồng.
Tiền lãi mỗi năm trong ví dụ là:
10.000.000 đồng nhân 8 phần trăm bằng 800.000 đồng.
| Mốc giả định | Dòng tiền nhận | Lũy kế từ lúc mua |
|---|---|---|
| Ngày mua | âm 10.000.000 đồng | âm 10.000.000 đồng |
| Cuối năm 1 | 800.000 đồng | âm 9.200.000 đồng |
| Cuối năm 2 | 800.000 đồng | âm 8.400.000 đồng |
| Cuối năm 3 | 10.800.000 đồng | 2.400.000 đồng |
Khoản 10.800.000 đồng ở năm 3 gồm 10.000.000 đồng tiền gốc và 800.000 đồng tiền lãi cuối kỳ. Tổng chênh lệch tiền vào và tiền ra là 2.400.000 đồng nếu bên phát hành trả đủ, người sở hữu giữ đến đáo hạn và tạm bỏ qua thuế, phí cùng giá trị thời gian của tiền.
So với cổ phiếu, giả sử 10.000.000 đồng được dùng để mua 200 cổ phiếu với giá 50.000 đồng một cổ phiếu. Công ty không có nghĩa vụ hoàn lại 10.000.000 đồng vào năm thứ 3.
| Tình huống giả định | Phép tính | Giá trị |
|---|---|---|
| Giá còn 42.000 đồng | 200 nhân 42.000 đồng | 8.400.000 đồng |
| Giá vẫn 50.000 đồng | 200 nhân 50.000 đồng | 10.000.000 đồng |
| Giá lên 58.000 đồng | 200 nhân 58.000 đồng | 11.600.000 đồng |
| Cổ tức 2.000 đồng | 200 nhân 2.000 đồng | 400.000 đồng |
Cổ tức 400.000 đồng chỉ xuất hiện nếu doanh nghiệp quyết định chia đúng mức giả định. Giá trị 8.400.000 đồng hoặc 11.600.000 đồng cũng chỉ thành dòng tiền thực khi cổ phiếu được bán, trước thuế và phí.
Các con số trên không phải mức lãi, giá hoặc kết quả của bất kỳ sản phẩm đang lưu hành nào. Chúng chỉ giúp nhìn rõ sự khác nhau giữa dòng tiền theo nghĩa vụ nợ và phần giá trị biến động của vốn chủ sở hữu. Có thể dùng trang công cụ tính để kiểm tra lại phép nhân, nhưng đầu vào phải lấy từ hồ sơ chính thức.
Vì sao giá trái phiếu vẫn thay đổi?
Trái phiếu có mệnh giá 1.000.000 đồng không có nghĩa lúc nào cũng bán được đúng 1.000.000 đồng. Giá trên thị trường chịu ảnh hưởng của lãi suất mới, thời gian còn lại, khả năng trả nợ và mức độ dễ bán.
Giả sử một trái phiếu còn đúng 1 năm, cuối kỳ trả tổng cộng 1.080.000 đồng. Nếu thị trường đòi mức sinh lời giả định 10 phần trăm cho rủi ro tương đương, giá lý thuyết hiện tại vào khoảng:
1.080.000 đồng chia 1,10 bằng 981.818 đồng.
Nếu mức yêu cầu chỉ là 6 phần trăm, giá lý thuyết vào khoảng:
1.080.000 đồng chia 1,06 bằng 1.018.868 đồng.
Cơ chế khá đơn giản. Khi khoản nợ mới trả cao hơn mà rủi ro tương đương, khoản nợ cũ trả thấp hơn phải giảm giá để cạnh tranh. Khi mức yêu cầu thấp đi, dòng tiền cố định cũ có thể được định giá cao hơn.
Đây mới là giá lý thuyết cho ví dụ 1 kỳ. Giá giao dịch thực tế còn phụ thuộc người mua, người bán, thuế, phí, lãi tích lũy và thông tin mới về bên phát hành. Trái phiếu còn 10 năm thường nhạy với thay đổi lãi suất hơn trái phiếu còn 3 tháng, vì dòng tiền nằm xa hiện tại hơn.
Các loại trái phiếu hay gặp
Trái phiếu Chính phủ
Đây là khoản Chính phủ vay để đáp ứng nhu cầu ngân sách và tài trợ các mục tiêu công. Khả năng thanh toán gắn với năng lực tài chính của Nhà nước.
Loại này thường được đánh giá khác trái phiếu doanh nghiệp, nhưng vẫn có rủi ro giá, lạm phát và tiền tệ. Nếu bán trước đáo hạn, số tiền thu về vẫn có thể khác mệnh giá.
Trái phiếu doanh nghiệp
Doanh nghiệp vay tiền để tài trợ hoạt động, dự án hoặc cơ cấu nguồn vốn. Gốc và lãi phụ thuộc dòng tiền, tài sản cùng năng lực thực hiện nghĩa vụ của chính doanh nghiệp hoặc bên bảo lãnh hợp lệ.
Hai doanh nghiệp cùng phát hành trái phiếu 3 năm không tạo ra 2 khoản nợ an toàn như nhau. Cần phân biệt ngành nghề, tổng nợ, dòng tiền, tài sản bảo đảm và thứ tự ưu tiên.
Trái phiếu chuyển đổi
Ban đầu đây vẫn là khoản nợ. Trong khoảng thời gian và theo tỷ lệ đã quy định, người sở hữu có thể có quyền đổi trái phiếu thành cổ phiếu của doanh nghiệp phát hành.
Sau khi chuyển đổi, phần đã đổi thường không còn là khoản nợ phải hoàn gốc như trước. Người sở hữu chuyển từ vị trí chủ nợ sang cổ đông đối với phần cổ phiếu nhận được.
Trái phiếu xanh
Tiền huy động được cam kết sử dụng cho dự án có mục tiêu môi trường, chẳng hạn năng lượng sạch hoặc giảm phát thải. Nhãn xanh mô tả mục đích sử dụng vốn và cơ chế báo cáo.
Nhãn này không tự bảo đảm khả năng trả nợ. Vẫn phải xem người phát hành, dòng tiền, điều khoản, việc quản lý vốn và báo cáo sử dụng tiền.
Trái phiếu chuyển đổi là gì?
Trái phiếu chuyển đổi nằm giữa nợ và vốn chủ sở hữu theo từng giai đoạn. Trước khi chuyển đổi, người nắm giữ là chủ nợ theo điều khoản. Sau khi chuyển đổi, họ trở thành cổ đông với số cổ phiếu được xác định theo tỷ lệ hoặc giá chuyển đổi.
Ví dụ giả định, 1 trái phiếu có mệnh giá 100.000.000 đồng và giá chuyển đổi là 20.000 đồng một cổ phiếu. Nếu đủ điều kiện chuyển đổi toàn bộ:
100.000.000 đồng chia 20.000 đồng bằng 5.000 cổ phiếu.
Nếu giá cổ phiếu giả định tại thời điểm đó là 18.000 đồng, 5.000 cổ phiếu có giá trị thị trường 90.000.000 đồng. Nếu giá là 24.000 đồng, giá trị thị trường là 120.000.000 đồng. Hai con số này chưa tính lãi đã nhận, lãi bị mất khi chuyển đổi, thuế, phí, giới hạn giao dịch và điều chỉnh tỷ lệ.
Không phải cứ có quyền chuyển đổi là được đổi bất kỳ ngày nào. Hồ sơ có thể quy định chỉ được chuyển trong 1 khoảng thời gian, cần đạt điều kiện nhất định hoặc cho phép bên phát hành mua lại trước khi quyền được thực hiện. Việc phát hành thêm cổ phiếu cũng làm tổng số phần sở hữu tăng lên, khiến tỷ lệ sở hữu của cổ đông cũ bị pha loãng.
Trường hợp đặc biệt và ngoại lệ
Trái phiếu không trả lãi định kỳ có thể được bán thấp hơn mệnh giá rồi thanh toán mệnh giá khi đáo hạn. Không nhìn thấy tiền lãi mỗi quý hoặc mỗi năm không có nghĩa khoản nợ không tạo chênh lệch.
Trái phiếu lãi suất thả nổi không giữ một mức lãi duy nhất. Khoản lãi có thể bằng một mức tham chiếu cộng phần chênh lệch, được đặt lại sau 3 tháng, 6 tháng hoặc khoảng thời gian ghi trong điều khoản.
Trái phiếu có quyền mua lại trước hạn có thể kết thúc sớm theo điều kiện công bố. Khi đó, phép tính dựa trên việc nhận lãi suốt 5 năm có thể không còn đúng nếu khoản nợ được tất toán ở năm thứ 2.
Trái phiếu thứ cấp có thể đứng sau các khoản nợ ưu tiên khác. Dù vẫn là chủ nợ, người sở hữu không mặc nhiên cùng thứ tự với mọi chủ nợ.
Trái phiếu có bảo đảm một phần chỉ được che phủ trong phạm vi tài sản hoặc giá trị đã cam kết. Phần thiếu sau xử lý tài sản có thể trở thành khoản nợ không bảo đảm, tùy hồ sơ và quy định áp dụng.
Cổ phiếu ưu đãi là ngoại lệ phía cổ phiếu. Một số loại có quyền nhận cổ tức hoặc tài sản trước cổ phiếu phổ thông, nhưng vẫn không vì thế mà trở thành trái phiếu.
Khi doanh nghiệp phá sản, ai được trả trước?
Câu ngắn gọn là chủ nợ thường đứng trước cổ đông, nhưng trái chủ không nhất thiết đứng đầu toàn bộ hàng chờ.
Tài sản bảo đảm hợp lệ thường được xử lý theo nghĩa vụ mà nó bảo đảm. Nếu bán tài sản thu 70 tỷ đồng trong khi khoản nợ được bảo đảm là 100 tỷ đồng, còn thiếu 30 tỷ đồng. Cách xếp 30 tỷ đồng còn lại phụ thuộc hồ sơ và pháp luật áp dụng.
Trong khối tài sản chung, chi phí phá sản, quyền lợi người lao động, nghĩa vụ với Nhà nước và các nhóm chủ nợ có thể có thứ tự khác nhau. Chỉ sau khi các nghĩa vụ được giải quyết, phần còn dư mới thuộc về chủ sở hữu.
Giả sử sau thanh lý doanh nghiệp có 120 tỷ đồng nhưng tổng các nghĩa vụ đứng trước cổ đông là 150 tỷ đồng. Chủ nợ có thể không thu đủ, còn cổ đông không có phần tài sản dư. Nếu tài sản là 180 tỷ đồng và mọi nghĩa vụ trước cổ đông được thanh toán đủ 150 tỷ đồng, phần 30 tỷ đồng còn lại mới được phân bổ cho chủ sở hữu theo quyền tương ứng.
Thứ tự cụ thể không thể kết luận chỉ bằng tên chứng khoán. Phải đọc điều khoản phát hành, hợp đồng bảo đảm, loại khoản nợ và quy định pháp luật còn hiệu lực tại thời điểm xử lý.
Hiểu lầm hay gặp
Trái phiếu luôn an toàn hơn cổ phiếu. Không đúng nếu hiểu an toàn là chắc chắn nhận đủ tiền. Trái chủ có quyền đòi nợ trước cổ đông, nhưng vẫn có thể chịu thiệt hại nếu bên vay thiếu tài sản hoặc hồ sơ bảo đảm không thực hiện được.
Có tài sản bảo đảm là lấy lại đủ 100 phần trăm. Không hẳn. Giá bán thực tế có thể thấp hơn giá định giá, tài sản có thể khó xử lý hoặc chỉ bảo đảm một phần nghĩa vụ.
Cổ phiếu trả cổ tức giống trái phiếu trả lãi. Hai dòng tiền khác bản chất. Lãi trái phiếu là nghĩa vụ theo điều khoản. Cổ tức phụ thuộc kết quả, quyết định phân phối lợi nhuận và loại cổ phiếu.
Giới hạn cần nói rõ
Không thể xác định mức an toàn của một trái phiếu cụ thể chỉ từ thời hạn, mức lãi hoặc nhãn doanh nghiệp, chuyển đổi hay xanh. Bài viết này cũng không xác minh được tình trạng pháp lý, dư nợ và tài sản của một lô đang lưu hành.
Với trường hợp cụ thể, người đọc cần tra bản công bố thông tin, điều khoản phát hành, báo cáo tài chính đã kiểm toán, lịch thanh toán, đăng ký tài sản bảo đảm và thông báo tại nguồn chính thức. Dữ liệu phải đúng mã, đúng ngày và đúng pháp nhân phát hành.
Nếu có tranh chấp về quyền sở hữu, thứ tự trả nợ, bảo lãnh hoặc xử lý tài sản, cần hỏi cơ quan có thẩm quyền hoặc người hành nghề pháp lý. Các kiến thức nền khác có thể xem tại mục bài viết và đối chiếu số liệu thị trường ở trang chứng khoán.
Hỏi nhanh
Trái phiếu có thể mất vốn không?
Có. Bên phát hành có thể trả chậm, trả thiếu hoặc mất khả năng thanh toán. Bán trước đáo hạn với giá thấp hơn giá mua cũng có thể tạo ra khoản hụt vốn.
Cổ phiếu có được trả lãi định kỳ không?
Không theo cơ chế của khoản vay. Cổ đông có thể nhận cổ tức nếu doanh nghiệp quyết định chia, nhưng mức chia và thời điểm chia không được mặc định như tiền lãi ghi trong điều khoản trái phiếu.
Sau khi đổi trái phiếu thành cổ phiếu, còn được đòi tiền gốc không?
Thông thường, phần đã chuyển đổi trở thành vốn cổ phần và không còn quyền đòi hoàn trả gốc như khoản nợ ban đầu. Kết quả chính xác phải đối chiếu điều khoản chuyển đổi của từng đợt phát hành.
Xem bảng giá vàng, bạc và tỷ giá mới nhất, cập nhật 15 phút một lần.
Mở bảng giá hôm nay →