Bảng Giá Tài ChínhCập nhật tự động
📅 2026-09-10 · đọc khoảng 11 phút

Cách tính thuế cổ tức bằng cổ phiếu? Giải thích dễ hiểu kèm ví dụ

Nhận cổ tức bằng cổ phiếu thì tính thuế lúc nào?

Tính theo quy định áp dụng từ 1/7/2026, cá nhân cư trú chưa phải nộp thuế khi nhận cổ tức bằng cổ phiếu. Khi chuyển nhượng cổ phiếu cùng loại, có 2 khoản cần tính: thuế trên cổ tức bằng 5% giá trị cổ tức tính thuế, và thuế chuyển nhượng bằng 0,1% giá trị bán. Nếu giá bán thấp hơn mệnh giá, khoản 5% được tính theo giá thị trường tại thời điểm chuyển nhượng.

Muốn xem số thật trước khi đọc tiếp? Bảng giá cập nhật 15 phút một lần.

Mở bảng giá hôm nay →

Quy tắc này nằm tại Điều 52 và Điều 54 [Nghị định 253/2026/NĐ-CP của Chính phủ](https://vanban.chinhphu.vn/?docid=218684&pageid=27160&typegroupid=4). Bài viết dùng cho cá nhân cư trú nhận cổ tức bằng cổ phiếu tại Việt Nam. Các con số giao dịch bên dưới đều là giả định để minh họa cách tính, không phải giá của một mã cổ phiếu.

Vì sao có 2 khoản thuế khi bán?

Cổ tức bằng cổ phiếu là phần cổ tức bạn nhận dưới dạng cổ phiếu mới. Lúc nhận, số cổ phiếu trong tài khoản tăng nhưng bạn chưa nhận tiền mặt. Quy định vì thế đặt thời điểm nộp thuế trên khoản cổ tức vào lúc chuyển nhượng, thay vì lúc cổ phiếu vừa về tài khoản.

Khi bán, cơ quan thuế nhìn vào 2 việc khác nhau. Việc thứ nhất là bạn đã nhận cổ tức, thuộc thu nhập từ đầu tư vốn. Việc thứ hai là bạn chuyển nhượng chứng khoán. Mỗi việc có cách tính riêng. Thuế trên cổ tức không thay thế thuế chuyển nhượng, và thuế chuyển nhượng cũng không làm mất khoản thuế trên cổ tức. [Hướng dẫn công bố của Chính phủ về thu nhập từ đầu tư vốn](https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/thue-thu-nhap-ca-nhan-doi-voi-thu-nhap-tu-dau-tu-von-119260703163452843.htm) nêu rõ cả hai nghĩa vụ khi chuyển nhượng cổ phiếu nhận thay cổ tức.

Cũng cần đọc đúng tỷ lệ chia. Nếu thông báo trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 20%, người có 100 cổ phiếu sẽ nhận thêm 20 cổ phiếu, thành 120 cổ phiếu. Con số 20% mô tả lượng cổ phiếu được nhận thêm. Nó không có nghĩa tài khoản xuất hiện thêm 20% tiền mặt, cũng không phải thuế suất.

Hai công thức cần nhớ

Các căn cứ và ngoại lệ về mệnh giá được nêu tại Điều 52; cách tính 0,1% được nêu tại Điều 54 [Nghị định 253/2026/NĐ-CP](https://vanban.chinhphu.vn/?docid=218684&pageid=27160&typegroupid=4). Mệnh giá là giá trị ghi cho một cổ phiếu trong hồ sơ phát hành; nó có thể khác giá cổ phiếu đang giao dịch. Giá trị bán là số cổ phiếu bán nhân với giá bán, trước khi trừ các khoản thuế và phí liên quan.

Điểm cần xem trong thông báo trả cổ tức là số cổ phiếu thực nhận, không chỉ tỷ lệ công bố. Nếu tài khoản có phần lẻ, số được ghi nhận có thể khác phép nhân nhẩm. Bạn có thể đối chiếu giá giao dịch ở mục chứng khoán, nhưng khi tính nghĩa vụ của mình vẫn cần dùng đúng giá trong giao dịch và chứng từ tài khoản.

Ví dụ: nhận 200 cổ phiếu, bán 100 cổ phiếu

Giả sử bạn có 1.000 cổ phiếu. Doanh nghiệp trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 20%, nên bạn thực nhận 200 cổ phiếu, tổng số đang có thành 1.200 cổ phiếu. Ví dụ này giả định giá trị cổ tức tính theo mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu. Sau đó bạn bán 100 cổ phiếu với giá 18.000 đồng/cổ phiếu.

Khoản tínhPhép tính giả địnhKết quả
Cổ phiếu nhận thêm1.000 × 20%200 cổ phiếu
Giá trị bán 100 cổ phiếu100 × 18.000 đồng1.800.000 đồng
Thuế trên cổ tức100 × 10.000 đồng × 5%50.000 đồng
Thuế chuyển nhượng1.800.000 đồng × 0,1%1.800 đồng
Tổng 2 khoản thuế50.000 + 1.800 đồng51.800 đồng

Trong lần bán này, 100 cổ phiếu được tính vào số cổ phiếu nhận thay cổ tức. Bạn còn 100 cổ phiếu nhận thay cổ tức chưa tính khoản thuế 5% ở lần chuyển nhượng tiếp theo. Tổng tiền bán 1.800.000 đồng không phải số tiền thực nhận cuối cùng: ví dụ chỉ cộng 2 khoản thuế đang bàn, chưa đưa phí giao dịch vào. Bạn có thể dùng mục công cụ để kiểm lại phép nhân, rồi so với sao kê thực tế.

Nếu bán cổ phiếu cũ và cổ phiếu cổ tức lẫn nhau?

Đây là chỗ dễ nhầm nhất. Sau khi nhận cổ tức, bạn có thể thấy toàn bộ 1.200 cổ phiếu cùng một mã trong tài khoản. Bạn không cần tự chỉ định lệnh bán lấy từ “lô cũ” hay “lô cổ tức” để tránh hoặc phát sinh thuế.

Quy định nói rằng khi chuyển nhượng cổ phiếu cùng loại, bạn phải nộp thuế trên cổ tức cho tới khi hết số cổ phiếu đã nhận thay cổ tức. Nghĩa là trong ví dụ trên, số cổ phiếu cùng loại bán ra được theo dõi để tính khoản 5% tối đa trên 200 cổ phiếu cổ tức. Đây là quy tắc tính thuế, không phải nhận định về cổ phiếu nào đã rời tài khoản.

Giả sử sau lần bán 100 cổ phiếu ở bảng trước, bạn bán tiếp 150 cổ phiếu, vẫn với giá giả định 18.000 đồng/cổ phiếu:

Lần bánThuế trên cổ tứcThuế chuyển nhượng
Lần 1: 100 cổ phiếu100 × 10.000 × 5% = 50.000 đồng100 × 18.000 × 0,1% = 1.800 đồng
Lần 2: 150 cổ phiếu100 × 10.000 × 5% = 50.000 đồng150 × 18.000 × 0,1% = 2.700 đồng

Ở lần 2, chỉ còn 100 cổ phiếu thuộc số cổ tức chưa tính thuế, nên khoản 5% dừng ở 100 cổ phiếu đó. Cả 150 cổ phiếu bán ra vẫn chịu thuế chuyển nhượng 0,1%. Sau hai lần bán, khoản thuế trên 200 cổ phiếu cổ tức trong ví dụ đã được tính hết.

Trường hợp đặc biệt: bán thấp hơn mệnh giá

Đừng mặc định luôn lấy mệnh giá để tính khoản 5%. Điều 52 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định: nếu giá chuyển nhượng cổ phiếu thấp hơn mệnh giá tại thời điểm chuyển nhượng, thuế trên thu nhập từ đầu tư vốn được tính theo giá thị trường tại thời điểm đó.

Giả sử bạn bán 200 cổ phiếu nhận thay cổ tức. Mệnh giá giả định là 10.000 đồng/cổ phiếu; giá thị trường và giá bán trong ví dụ đều là 8.000 đồng/cổ phiếu. Khoản thuế trên cổ tức là 200 × 8.000 × 5% = 80.000 đồng. Thuế chuyển nhượng là 200 × 8.000 × 0,1% = 1.600 đồng. Tổng hai khoản là 81.600 đồng, chưa tính phí.

Nếu lấy mệnh giá 10.000 đồng cho khoản thuế đầu tiên trong tình huống giả định này, bạn sẽ ra 100.000 đồng, cao hơn kết quả theo ngoại lệ nêu trên. Với cổ phiếu không giao dịch trên sở giao dịch, việc xác định giá chuyển nhượng và giá thị trường có thể cần thêm hồ sơ; đừng tự thay bằng một mức giá nghe được từ người khác. [Hướng dẫn của Chính phủ về thuế chuyển nhượng chứng khoán](https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/thue-thu-nhap-ca-nhan-doi-voi-thu-nhap-tu-chuyen-nhuong-chung-khoan-119260703164200344.htm) phân biệt cách xác định giá cho chứng khoán giao dịch trên sở và các trường hợp khác.

Những khoản cổ phiếu dễ gọi nhầm là cổ tức

Cổ tức bằng tiền có thời điểm tính khác. Bạn nhận một khoản tiền; tổ chức trả thu nhập khấu trừ thuế đối với khoản cổ tức đó trước khi trả. Không dùng bảng tính “chờ bán cổ phiếu” ở trên cho cổ tức tiền mặt.

Cổ phiếu phát hành từ nguồn vốn chủ sở hữu cho cổ đông hiện hữu cũng được Điều 52 đề cập cùng cơ chế thuế trên thu nhập từ đầu tư vốn khi chuyển nhượng. Nếu thông báo của doanh nghiệp ghi tên nghiệp vụ này thay vì “trả cổ tức bằng cổ phiếu”, đừng vội cho rằng số cổ phiếu tăng thêm không liên quan đến thuế.

Cổ phiếu mua bằng quyền mua lại có yếu tố bạn bỏ tiền để mua thêm. Cổ phiếu thưởng cho người lao động hoặc cổ phiếu theo chương trình dành cho người lao động có quy định riêng về thu nhập từ tiền lương, tiền công. Chỉ thấy số cổ phiếu tăng trong tài khoản chưa đủ để chọn công thức thuế. Hãy đọc thông báo phát hành, nguồn cổ phiếu và chứng từ ghi nhận quyền trước khi tính.

Ai kê khai và cần kiểm tra gì?

Với cổ phiếu giao dịch qua hệ thống của sở giao dịch, Điều 55 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định tổ chức liên quan đến tài khoản lưu ký có trách nhiệm khai và nộp thay thuế trên khoản cổ tức bằng cổ phiếu khi cá nhân chuyển nhượng chứng khoán cùng loại. Tùy cách lưu ký và giao dịch, đó có thể là công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại hoặc công ty quản lý quỹ. Với chứng khoán không giao dịch qua sở, đơn vị khai thay được xác định theo cách quản lý chứng khoán và danh sách cổ đông. Trường hợp đơn vị có trách nhiệm khai thay đã giải thể hoặc phá sản mà chưa làm việc đó, cá nhân phải tự khai, nộp theo quy định. [Toàn văn Nghị định 253/2026/NĐ-CP](https://vanban.chinhphu.vn/?docid=218684&pageid=27160&typegroupid=4) là nguồn để kiểm tra đúng trường hợp của mình.

Để đối chiếu một khoản thuế hiển thị trên tài khoản, hãy giữ 4 thông tin: thông báo loại cổ phiếu được nhận, số cổ phiếu thực nhận, mệnh giá hoặc giá trị cổ tức ghi sổ, và lịch sử từng lần bán cùng giá bán. Nếu đã bán nhiều đợt, cộng dồn số cổ phiếu cùng loại đã bán để biết còn bao nhiêu cổ phiếu cổ tức cần tính khoản 5%. Nếu chuyển tài khoản lưu ký, mã cổ phiếu có thay đổi, hoặc sao kê không khớp số cổ phiếu thực nhận, hãy yêu cầu đơn vị quản lý tài khoản đối chiếu dữ liệu gốc.

Hiểu lầm hay gặp

Chỗ cần đối chiếu nguồn chính thức

Bài này dựa trên quy định có hiệu lực từ 1/7/2026, đối chiếu tại 2/10/2026. Ví dụ đã giả định rõ tỷ lệ chia, mệnh giá, giá thị trường và giá bán; những số đó không phải dữ liệu của một giao dịch thật. Giá cổ phiếu đang giao dịch có thể tra để tham khảo ở mục chứng khoán, nhưng số dùng đối chiếu thuế của bạn phải theo giao dịch và hồ sơ phát hành thực tế.

Nếu bạn nhận cổ phiếu trước mốc hiệu lực trên rồi bán sau đó, nắm cổ phiếu chưa niêm yết, không thuộc diện cá nhân cư trú, hoặc có giao dịch chuyển quyền sở hữu không qua lệnh bán thông thường, đừng áp nguyên bảng ví dụ. Hãy đối chiếu Điều 52, Điều 54, Điều 55 của Nghị định 253/2026/NĐ-CP](https://vanban.chinhphu.vn/?docid=218684&pageid=27160&typegroupid=4) và hỏi cơ quan thuế có thẩm quyền khi hồ sơ của bạn chưa rõ căn cứ tính. Mục [bài viết có thể giúp đọc thêm kiến thức nền, nhưng thông báo phát hành, sao kê và văn bản chính thức mới là căn cứ để chốt số của từng trường hợp.

Hỏi nhanh

Nhận cổ tức bằng cổ phiếu có bị trừ 5% ngay không?

Không. Với trường hợp cá nhân cư trú nêu trong bài, khoản thuế trên cổ tức được tính khi chuyển nhượng cổ phiếu cùng loại, tối đa tới khi hết số cổ phiếu nhận thay cổ tức.

Cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 20% nghĩa là gì?

Nếu đang có 100 cổ phiếu, tỷ lệ 20% nghĩa là nhận thêm 20 cổ phiếu, thành 120 cổ phiếu, theo số thực nhận được ghi nhận. Đó là tỷ lệ phân phối cổ phiếu, không phải thuế suất.

Bán dưới mệnh giá còn phải tính thuế không?

Có. Khoản thuế chuyển nhượng vẫn tính bằng 0,1% giá trị bán. Với số cổ phiếu nhận thay cổ tức thuộc diện tính thuế, khoản 5% dùng giá thị trường tại thời điểm chuyển nhượng khi giá chuyển nhượng thấp hơn mệnh giá.

Xem bảng giá vàng, bạc và tỷ giá mới nhất, cập nhật 15 phút một lần.

Mở bảng giá hôm nay →