So lãi suất tiết kiệm: bốn chỗ ngân hàng hay ghi khác nhau
Vì sao hai ngân hàng cùng ghi 5% mà tiền về khác nhau?
Muốn xem số thật trước khi đọc tiếp? Bảng giá cập nhật 15 phút một lần.
Mở bảng giá hôm nay →Khi so sánh, đừng chỉ nhìn con số lớn nhất trên bảng. Hãy tìm đủ bốn thông tin trên cùng một dòng hoặc trong điều khoản của khoản gửi. Nếu thiếu một mục, kết quả tính mới chỉ là ước lượng.
1. Lãi suất luôn tính theo năm
Con số ghi trên bảng là lãi suất một năm, dù bạn gửi 6 tháng hay 1 tháng. Ngân hàng thường ghi thêm ký hiệu như phần trăm một năm hoặc phần trăm mỗi năm.
Gửi 100 triệu đồng, lãi suất 5% một năm, kỳ hạn 6 tháng thì cách ước lượng đơn giản là:
100.000.000 × 5% × 6/12 = 2.500.000 đồng
Không phải 5 triệu đồng. Đây là chỗ nhầm phổ biến nhất của người gửi lần đầu.
Nếu kỳ hạn là 3 tháng, tiền lãi ước tính sẽ là:
100.000.000 × 5% × 3/12 = 1.250.000 đồng
Nếu gửi 200 triệu đồng trong 6 tháng với cùng mức 5% một năm, tiền lãi ước tính tăng theo số tiền gửi:
200.000.000 × 5% × 6/12 = 5.000.000 đồng
Các con số trên đều là ví dụ giả định để tập ước lượng, không phải lãi suất của một ngân hàng cụ thể tại thời điểm hiện tại.
Số thực nhận có thể lệch nhẹ so với phép chia theo tháng. Lý do là ngân hàng có thể tính theo số ngày gửi thực tế và số ngày quy ước của một năm. Ngày bắt đầu, ngày đáo hạn và cách làm tròn cũng có thể ảnh hưởng vài nghìn đồng. Muốn biết số chính xác, hãy xem số tiền dự kiến nhận trên màn hình xác nhận hoặc hợp đồng trước khi hoàn tất khoản gửi.
2. Trả lãi cuối kỳ hay hàng tháng?
Trả lãi cuối kỳ nghĩa là hết kỳ hạn mới nhận cả gốc lẫn lãi. Lãi suất niêm yết thường cao nhất ở kiểu này.
Trả lãi hàng tháng nghĩa là mỗi tháng nhận một phần lãi, còn tiền gốc vẫn nằm trong khoản gửi. Cách này tạo dòng tiền đều hơn, nhưng mức lãi suất áp dụng thường thấp hơn trả cuối kỳ.
Cùng một kỳ hạn, hai kiểu trả lãi có thể lệch nhau 0,1 đến 0,3 điểm phần trăm. Điểm phần trăm là phần chênh trực tiếp giữa hai mức lãi suất. Chẳng hạn, từ 5% xuống 4,8% là giảm 0,2 điểm phần trăm.
Giả sử có hai phương án cùng gửi 100 triệu đồng trong 12 tháng:
| Cách nhận lãi | Lãi suất giả định | Tổng lãi ước tính |
|---|---|---|
| Cuối kỳ | 5% một năm | 5.000.000 đồng |
| Hàng tháng | 4,8% một năm | 4.800.000 đồng |
Mức chênh là 200.000 đồng trên 100 triệu đồng sau một năm. Đổi lại, phương án hàng tháng cho nhận tiền sớm hơn thay vì chờ tới ngày đáo hạn.
Nếu chọn trả hàng tháng, 4.800.000 đồng một năm tương đương khoảng 400.000 đồng mỗi tháng theo cách chia đơn giản. Số trả từng tháng thực tế vẫn có thể khác nhẹ do số ngày của mỗi kỳ tính lãi.
Đừng cộng lãi hàng tháng vào tiền gốc trên giấy rồi tự tính lãi kép, trừ khi khoản tiền đó thật sự được gửi tiếp. Lãi đã chuyển sang tài khoản thanh toán thường không tự sinh lãi theo mức của khoản tiết kiệm ban đầu.
3. Nhập gốc hay không
Hết kỳ hạn mà người gửi không tất toán, nhiều khoản tiết kiệm sẽ tự động gia hạn. Tuy nhiên, cách gia hạn không phải lúc nào cũng giống nhau:
- Gia hạn gốc nghĩa là chỉ tiền gốc được gửi sang kỳ mới, còn lãi chuyển về tài khoản nhận tiền
- Gia hạn cả gốc và lãi nghĩa là tiền lãi được cộng vào gốc, rồi toàn bộ số mới bước sang kỳ tiếp theo
- Không tự gia hạn nghĩa là cả gốc và lãi được chuyển về tài khoản theo thỏa thuận
Giả sử gửi 100 triệu đồng, kỳ hạn 12 tháng, lãi suất ở cả hai năm đều là 5% một năm. Đây chỉ là số giả định để minh họa.
Nếu không nhập lãi vào gốc, sau hai năm tổng phần lãi là:
5.000.000 + 5.000.000 = 10.000.000 đồng
Nếu nhập lãi vào gốc, năm thứ hai bắt đầu với 105 triệu đồng:
105.000.000 × 5% = 5.250.000 đồng
Tổng lãi hai năm là 10.250.000 đồng, cao hơn 250.000 đồng so với trường hợp chỉ gia hạn 100 triệu đồng tiền gốc.
Điểm cần chú ý là kỳ mới thường áp dụng mức lãi suất tại ngày gia hạn, không mặc nhiên giữ mức cũ. Nếu năm đầu ghi 5%, điều đó không có nghĩa năm thứ hai cũng là 5%. Vì vậy, phép tính trên chỉ nhằm cho thấy tác động của việc nhập lãi vào gốc.
4. Điều kiện kèm theo
Nhiều mức lãi suất cao nhất trên bảng đi kèm điều kiện. Các điều kiện thường gặp gồm:
- Gửi từ một số tiền tối thiểu trở lên
- Gửi qua ứng dụng thay vì tới quầy
- Chọn đúng kỳ hạn được áp dụng mức ưu đãi
- Là khách hàng mới hoặc thuộc nhóm khách hàng ưu tiên
- Nhận lãi cuối kỳ thay vì nhận trước hay nhận hàng tháng
- Mở khoản gửi trong một khoảng thời gian của chương trình
Con số to in đậm trên quảng cáo thường là mức cao nhất, không phải mức mọi khoản gửi đều nhận được. Một dòng ghi lãi suất đến 5% có nghĩa 5% là mức trần trong nhóm sản phẩm được nói tới. Kỳ hạn, số tiền hoặc cách gửi của bạn có thể chỉ được áp dụng mức thấp hơn.
Cũng cần phân biệt tiết kiệm thông thường với sản phẩm có điều kiện hoặc quyền lợi đi kèm. Nếu tên sản phẩm khác nhau, đừng mặc định chúng có cùng cách rút tiền, gia hạn và trả lãi.
Trước khi xác nhận, hãy đọc số lãi suất hiện trên chính khoản gửi của mình. Đây là con số hữu ích hơn mức nổi bật trên trang quảng cáo.
Cách so cho nhanh
Muốn so hai phương án, hãy đặt chúng về cùng một mặt bằng:
- Quy hết về cùng số tiền gửi
- Quy hết về cùng kỳ hạn
- Quy hết về cùng cách trả lãi
- Kiểm tra cả hai có cùng điều kiện gửi tại quầy hay trực tuyến không
- Xem cách xử lý khi đáo hạn và khi rút trước hạn
- Tính ra số đồng dự kiến nhận, không chỉ so phần trăm
Có thể ghi mỗi phương án thành một dòng ngắn như sau:
| Mục cần so | Phương án A | Phương án B |
|---|---|---|
| Số tiền và kỳ hạn | 100 triệu, 6 tháng | 100 triệu, 6 tháng |
| Cách nhận | Cuối kỳ | Hàng tháng |
| Điều kiện | Gửi trực tuyến | Gửi tại quầy |
Sau đó mới điền lãi suất thật được áp dụng cho từng phương án. Đừng lấy lãi suất 12 tháng của nơi này so với lãi suất 6 tháng của nơi kia, vì hai con số không nói về cùng một khoảng thời gian.
Giả sử phương án A áp dụng 5% một năm, còn phương án B áp dụng 4,8% một năm. Với 100 triệu đồng trong 6 tháng, cách ước lượng lần lượt là:
100.000.000 × 5% × 6/12 = 2.500.000 đồng
100.000.000 × 4,8% × 6/12 = 2.400.000 đồng
Mức chênh giả định là 100.000 đồng. Phép tính bằng tiền giúp nhìn rõ hơn nhiều so với cảm giác rằng 5% và 4,8% gần như giống nhau.
Trường hợp đặc biệt dễ làm kết quả thay đổi
Rút trước ngày đáo hạn
Nếu rút trước hạn, phần tiền rút có thể không còn được hưởng mức lãi suất kỳ hạn ban đầu. Cách xử lý phần còn lại tùy sản phẩm và điều khoản của ngân hàng.
Vì vậy, đừng lấy lãi suất 6 tháng để tính cho một khoản dự kiến có thể phải dùng sau 2 tháng. Hãy xem riêng mục rút trước hạn, rút một phần và tất toán toàn bộ.
Lãi trả trước
Một số khoản gửi trả lãi ngay khi bắt đầu. Số tiền lãi được nhận sớm, nhưng lãi suất và số tiền thực nộp có thể được trình bày khác với kiểu cuối kỳ. Khi so, hãy nhìn cả số tiền bỏ ra ban đầu, số lãi nhận được và thời gian tiền bị giữ.
Đáo hạn đúng ngày nghỉ
Ngày đáo hạn rơi vào cuối tuần hoặc ngày nghỉ có thể được hệ thống xử lý theo điều khoản riêng. Ứng dụng thường hiển thị ngày đáo hạn dự kiến và số tiền tạm tính. Nên kiểm tra hai dòng này trước khi gửi, nhất là khi cần tiền vào một ngày cụ thể.
Ba hiểu lầm hay gặp
Lãi suất 5% trong 6 tháng nghĩa là nhận 5%. Không. Nếu 5% là mức tính theo năm thì 6 tháng chỉ tương đương khoảng một nửa năm, tức khoảng 2,5% tiền gốc theo phép tính đơn giản.
Ngân hàng ghi cùng 5% thì tiền nhận luôn giống nhau. Không hẳn. Ngày gửi, số ngày thực tế, cách trả lãi, cách làm tròn và điều kiện sản phẩm có thể tạo ra chênh lệch.
Tự động gia hạn nghĩa là được giữ nguyên lãi suất. Không. Kỳ mới có thể dùng mức lãi suất đang áp dụng tại ngày gia hạn. Cần tách rõ việc tự gia hạn với việc giữ nguyên mức cũ.
Tiền gửi có liên quan gì tới giá vàng?
Có, nhưng là mối liên hệ gián tiếp. Khi lãi suất tiết kiệm cao hơn, việc giữ tiền trong ngân hàng tạo ra khoản lãi dễ tính hơn. Khi lãi suất thấp hơn, một phần dòng tiền có thể chuyển sang các kênh khác. Đây là một trong nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng nhu cầu vàng, chứ không phải công thức cứ lãi suất đổi là giá vàng sẽ đi theo một hướng cố định.
Giá vàng còn chịu tác động của giá thế giới, tỷ giá, cung cầu trong nước và chênh lệch giữa giá mua với giá bán. Có thể xem bảng giá vàng và tỷ giá để tham khảo thêm số liệu, nhưng trang không so sánh ngân hàng nào tốt hơn ngân hàng nào.
Hỏi nhanh
Gửi 100 triệu đồng, lãi suất 5% trong 1 tháng được bao nhiêu?
Theo cách ước lượng theo tháng, tiền lãi là khoảng 416.667 đồng:
100.000.000 × 5% × 1/12 = 416.667 đồng
Đây là số giả định. Số thực tế còn phụ thuộc số ngày và cách tính của khoản gửi.
Chênh 0,1 điểm phần trăm đáng bao nhiêu?
Với 100 triệu đồng gửi đủ 12 tháng, chênh 0,1 điểm phần trăm tương đương khoảng 100.000 đồng. Nếu gửi 6 tháng, mức chênh ước tính còn khoảng 50.000 đồng.
Xem con số nào trước khi bấm xác nhận?
Hãy kiểm tra lãi suất áp dụng, ngày đáo hạn, tiền lãi dự kiến, cách gia hạn và điều kiện rút trước hạn. Con số trên màn hình xác nhận của chính khoản gửi quan trọng hơn mức quảng cáo chung.
- Cách tính lãi sổ tiết kiệm ngân hàng? Hiểu đúng trong 3 phút
- Quy định lãi suất ngân hàng hiện nay? Hiểu đúng trong 3 phút
- Lệnh ATO, ATC, LO, MP trong chứng khoán là gì?
- Cách tính gửi tiết kiệm 1 tháng? Giải thích dễ hiểu kèm ví dụ
- Lãi kép là gì, tính thế nào cho đúng?
- Vàng ý 750 là gì, khác vàng 18K thường?
Xem bảng giá vàng, bạc và tỷ giá mới nhất, cập nhật 15 phút một lần.
Mở bảng giá hôm nay →