Vàng ta và vàng tây khác nhau chỗ nào?
Phân biệt trong 30 giây
Muốn xem số thật trước khi đọc tiếp? Bảng giá cập nhật 15 phút một lần.
Mở bảng giá hôm nay →Bảng so sánh vàng ta và vàng tây
| Tiêu chí | Vàng ta | Vàng tây |
|---|---|---|
| Tuổi vàng | Gần nguyên chất, thường là 999 hoặc 9999 | Thấp hơn, thường là 750, 585 hoặc 610 |
| Cách gọi theo K | Gần mức 24K | Thường gặp 18K, 14K và các mức khác |
| Hàm lượng vàng | 99,9% hoặc 99,99% | 75%, 58,5%, 61% tùy ký hiệu |
| Độ cứng | Mềm, dễ móp và trầy | Cứng hơn, giữ hình tốt hơn |
| Kiểu sản phẩm | Nhẫn trơn, vàng miếng, vật phẩm ít chi tiết | Nhẫn, dây, vòng, hoa tai và món gắn đá |
| Màu sắc | Màu vàng đậm | Có thể vàng, trắng hoặc hồng |
| Tiền công | Thường thấp nếu kiểu đơn giản | Thường cao hơn vì chế tác phức tạp |
| Giữ giá khi bán lại | Thường mất ít hơn nếu sản phẩm chuẩn và còn chứng từ | Thường mất nhiều hơn do tiền công, đá và tỷ lệ vàng thấp |
Chữ ta và tây là cách gọi dân gian, không phải hai nguyên tố khác nhau. Phần vàng bên trong vẫn là vàng. Điểm khác nằm ở độ tinh khiết và lượng kim loại được pha vào.
Ký hiệu 750 nghĩa là trong 1.000 phần hợp kim có khoảng 750 phần vàng, tương đương 75%. Ký hiệu 585 nghĩa là khoảng 58,5% vàng. Mức 610 là khoảng 61% vàng, không hoàn toàn giống 14K dù hai mức khá gần nhau.
Nếu muốn xem kỹ cách đổi giữa karat và phần nghìn, có thể đọc nhóm bài về vàng 24K, 18K và 14K và dùng trang đổi đơn vị vàng để kiểm tra khối lượng.
Vì sao vàng tây cứng hơn vàng ta?
Vàng nguyên chất có độ cứng khoảng 2,5 trên thang Mohs. Mohs là thang so khả năng chống trầy của vật liệu, chạy từ 1 đến 10. Con số 2,5 cho thấy vàng nguyên chất khá mềm. Một vật cứng hơn có thể để lại vết trên bề mặt vàng.
Bên trong vàng nguyên chất, các nguyên tử vàng có kích thước gần giống nhau và xếp thành cấu trúc khá đều. Khi bị ép hoặc va chạm, các lớp nguyên tử có thể trượt qua nhau. Vì vậy, nhẫn vàng ta dễ méo nếu bị kẹp mạnh, còn bề mặt dễ xuất hiện vết xước khi đeo thường xuyên.
Vàng tây được pha thêm bạc, đồng hoặc một số kim loại phù hợp khác. Các nguyên tử pha thêm có kích thước khác nguyên tử vàng. Chúng làm cấu trúc bên trong bớt đều và cản các lớp nguyên tử trượt qua nhau. Hợp kim vì thế cứng hơn, chịu va chạm tốt hơn và giữ được đường nét nhỏ.
Đây cũng là lý do trang sức cầu kỳ thường dùng vàng tây:
- Chấu giữ đá cần đủ cứng để không bị mở khi va chạm.
- Mắt dây nhỏ cần chịu được lực kéo lặp lại.
- Hoa văn mảnh cần giữ hình sau thời gian dài sử dụng.
- Bề mặt đánh bóng cần hạn chế móp quá nhanh.
- Món có nhiều chi tiết hàn cần hợp kim phù hợp với quá trình chế tác.
Pha kim loại còn làm đổi màu. Tăng tỷ lệ đồng có thể tạo ánh hồng. Kết hợp những kim loại có màu sáng có thể tạo nền vàng trắng. Vì vậy, vàng trắng và vàng hồng thường thuộc nhóm vàng tây, nhưng màu sắc không tự cho biết món đó là 18K, 14K hay 10K. Muốn biết tuổi vàng phải đọc dấu đóng hoặc đo bằng thiết bị.
Tuổi vàng được tính như thế nào?
Karat dùng thang 24 phần. Công thức gần đúng là lấy số K chia cho 24.
- 24K tương ứng mức gần nguyên chất.
- 18K có tỷ lệ lý thuyết là 18 chia 24, bằng 75%.
- 14K có tỷ lệ lý thuyết khoảng 58,33%.
- Dấu 585 thể hiện chuẩn 58,5%, gần với cách gọi 14K.
- Dấu 750 thể hiện 75%, tương ứng 18K.
- Dấu 999 thể hiện 99,9%.
- Dấu 9999 thể hiện 99,99%.
Một chỉ vàng tại Việt Nam bằng 3,75 gram. Một lượng bằng 10 chỉ, tức 37,5 gram. Khi hai món cùng nặng 1 chỉ, lượng vàng nguyên chất bên trong vẫn khác nhau vì tuổi vàng khác nhau.
Bảng dưới dùng mức giá vàng nguyên chất 10.000.000 đồng một chỉ làm số giả định. Đây không phải giá thị trường và chưa tính chênh lệch mua bán, tiền công, đá hay phí kiểm định.
| Ký hiệu | Vàng trong 1 chỉ | Giá trị vàng giả định |
|---|---|---|
| 9999 | 3,749625 gram | 9.999.000 đồng |
| 999 | 3,74625 gram | 9.990.000 đồng |
| 750 | 2,8125 gram | 7.500.000 đồng |
| 610 | 2,2875 gram | 6.100.000 đồng |
| 585 | 2,19375 gram | 5.850.000 đồng |
Bảng cho thấy trọng lượng toàn món không phải là trọng lượng vàng nguyên chất. Một chiếc vòng 2 chỉ loại 18K chứa lượng vàng tương đương khoảng 1,5 chỉ vàng nguyên chất. Phần còn lại là kim loại pha.
Riêng vàng 610 chứa khoảng 61% vàng. Quy theo công thức karat, mức này vào khoảng 14,64K. Có thể xem thêm phần giải thích trong nhóm bài về vàng 610.
Vì sao vàng ta thường giữ giá tốt hơn khi bán lại?
Giá lúc mua một món trang sức thường gồm nhiều phần:
- Giá trị lượng vàng thật.
- Tiền công tạo hình và hoàn thiện.
- Tiền gắn đá, khóa, chốt hoặc các bộ phận riêng.
- Giá trị của đá nếu món có đá.
- Chi phí kiểm định, đóng gói và phân phối nếu được cộng vào giá.
- Chênh lệch giữa giá bán ra và giá mua vào.
Khi bán lại, bên thu mua chủ yếu quan tâm đến trọng lượng vàng có thể thu hồi, tuổi vàng và tình trạng xác minh nguồn gốc. Công thiết kế đã bỏ ra trước đó không biến thành nhiều vàng hơn. Vì vậy, phần công thường không được tính lại đầy đủ.
Vàng ta dạng đơn giản thường có tỷ lệ vàng cao và tiền công thấp. Khoảng cách giữa số tiền trả lúc mua với giá trị vàng thu hồi vì thế thường nhỏ hơn. Vàng tây có thể mang tiền công lớn, trong khi chỉ 75%, 61% hoặc 58,5% trọng lượng là vàng.
Tuy nhiên, vàng ta không phải lúc nào cũng mất ít hơn trong mọi trường hợp. Mức giảm còn phụ thuộc vào:
- Chênh lệch giá mua và giá bán tại đúng thời điểm.
- Sản phẩm có đúng chuẩn tuổi đã ghi hay không.
- Có hóa đơn, bao bì hoặc giấy kiểm định hay không.
- Món bị móp, cắt, hàn hoặc thay đổi trọng lượng hay chưa.
- Chính sách thu lại cùng hệ thống và ngoài hệ thống.
- Phí thử tuổi hoặc hao hụt được áp dụng ra sao.
Có thể xem mức chênh đang được niêm yết tại trang chênh lệch mua bán và đối chiếu với bảng giá vàng. Giá thực tế thay đổi theo thời điểm, nên không dùng số giả định trong bài để thay cho bảng niêm yết.
Ví dụ tính mức mất giá khi bán lại
Giả sử giá quy đổi của vàng nguyên chất lúc mua là 10.000.000 đồng một chỉ. Đến lúc bán, giá thu lại giả định là 9.700.000 đồng một chỉ.
Món vàng ta giả định nặng 2 chỉ, được làm tròn như vàng nguyên chất. Tiền vàng là 20.000.000 đồng, tiền công 300.000 đồng, tổng tiền trả là 20.300.000 đồng. Khi bán, số tiền giả định nhận được là 2 nhân 9.700.000, bằng 19.400.000 đồng. Phần chênh là 900.000 đồng, tương đương khoảng 4,4% số tiền ban đầu.
Món vàng tây 18K cũng nặng 2 chỉ. Lượng vàng quy đổi là 2 nhân 75%, bằng 1,5 chỉ. Tiền vàng giả định là 15.000.000 đồng. Nếu tiền công là 3.000.000 đồng và đá trang trí là 2.000.000 đồng, tổng tiền trả là 20.000.000 đồng.
Khi bán lại, giả sử bên thu mua chỉ tính vàng và không tính giá trị đá, số tiền là 1,5 nhân 9.700.000, bằng 14.550.000 đồng. Phần chênh so với giá mua là 5.450.000 đồng, tương đương 27,25%.
| Món giả định | Tổng tiền lúc mua | Tiền thu lại |
|---|---|---|
| Vàng ta 2 chỉ | 20.300.000 đồng | 19.400.000 đồng |
| Vàng tây 18K, 2 chỉ | 20.000.000 đồng | 14.550.000 đồng |
Hai tỷ lệ 4,4% và 27,25% chỉ minh họa cơ chế tính. Chúng không phải mức giảm cố định cho mọi sản phẩm. Nếu món 18K có tiền công thấp, đá được định giá riêng hoặc có chính sách đổi sản phẩm, kết quả sẽ khác. Ngược lại, vàng ta không rõ tuổi hoặc thiếu chứng từ có thể bị thử lại và áp dụng cách tính khác.
Người đọc có thể nhập giá mua, giá thu lại và trọng lượng thật vào công cụ tính lãi lỗ vàng để tự đối chiếu.
Tiền công chế tác được tính ra sao?
Tiền công là khoản trả cho quá trình biến hợp kim thành món hoàn chỉnh. Nó có thể bao gồm tạo mẫu, đúc, cán, kéo sợi, hàn, gắn đá, đánh bóng và kiểm tra khóa. Món càng nhiều chi tiết nhỏ thì thời gian chế tác và tỷ lệ sản phẩm lỗi càng cao.
Tiền công có thể được báo theo 1 món, theo 1 chỉ hoặc gộp thẳng vào giá bán. Vì cách báo khác nhau, chỉ nhìn giá trên mỗi chỉ chưa chắc đã biết món nào có công cao hơn.
Ví dụ giả định, một món có phần vàng trị giá 8.800.000 đồng và tiền công 1.200.000 đồng sẽ có tổng giá 10.000.000 đồng. Tiền công chiếm 12% tổng số tiền. Nếu khi bán chỉ thu về 8.300.000 đồng tiền vàng, mức chênh không chỉ đến từ giá vàng giảm 500.000 đồng mà còn có cả 1.200.000 đồng tiền công không được thu hồi.
Một số nơi có thể hỗ trợ một phần tiền công khi đổi sản phẩm trong cùng hệ thống. Đây là chính sách thương mại riêng, không phải thuộc tính cố định của vàng. Cần đọc điều kiện trên hóa đơn, nhất là giới hạn thời gian, tình trạng sản phẩm và cách định giá đá. Phần giải thích sâu hơn nằm trong nhóm bài về nữ trang và công chế tác.
Trường hợp đặc biệt dễ tính sai
Món có đá cần tách trọng lượng đá khỏi trọng lượng toàn món. Một chiếc nhẫn nặng 5 gram không có nghĩa cả 5 gram đều là hợp kim vàng. Nếu đá, lò xo hoặc lõi bên trong nặng 0,5 gram, phần kim loại còn lại chỉ là 4,5 gram trước khi tiếp tục nhân với tuổi vàng.
Món rỗng ruột có thể trông lớn nhưng nhẹ. Kích thước bên ngoài không nói lên lượng vàng. Khi móp, chi phí sửa còn có thể đáng kể vì thành kim loại mỏng.
Món đã hàn sửa có thể cho kết quả khác nhau giữa các điểm đo. Mối hàn đôi khi có thành phần khác phần thân. Đo một điểm trên bề mặt chưa chắc đại diện cho toàn món.
Vàng trắng có lớp phủ có thể khiến phép kiểm tra bề mặt khó đọc hơn nếu thiết bị hoặc thao tác không phù hợp. Màu trắng cũng không chứng minh món đó là bạc hay là vàng 18K. Phải kiểm tra dấu tuổi và thành phần.
Món không có ký hiệu chưa đủ để kết luận là giả. Dấu có thể bị mòn, món cũ có thể chưa từng được đóng dấu, hoặc kích thước quá nhỏ. Tuy vậy, khi không có dấu và chứng từ, kết quả đo chuyên môn trở nên quan trọng hơn.
Hiểu lầm hay gặp
Vàng tây là vàng giả. Không đúng. Vàng 18K/750 vẫn chứa 75% vàng, còn vàng 14K/585 chứa khoảng 58,5% vàng. Đó là hợp kim vàng có tỷ lệ được xác định, không phải cứ pha kim loại là thành vàng giả.
Vàng ta cứng hơn vì có tuổi cao hơn. Thực tế ngược lại. Vàng càng gần nguyên chất càng mềm. Kim loại pha trong vàng tây làm cấu trúc khó biến dạng hơn, nên vàng tây thường hợp với trang sức đeo thường xuyên.
Bán lại chỉ cần lấy cân nặng nhân giá vàng. Cách này thiếu tuổi vàng, tiền công, đá, chênh lệch mua bán và các khoản khấu trừ. Với vàng 18K, phải tính lượng vàng theo tỷ lệ khoảng 75%. Với dấu 585, tỷ lệ là khoảng 58,5%.
Giới hạn khi tự ước tính
Không thể xác định chính xác giá thu lại chỉ từ tên gọi vàng ta hoặc vàng tây. Muốn có con số sát thực tế cần biết đủ trọng lượng kim loại, tuổi vàng, tình trạng món, chứng từ và bảng giá tại thời điểm kiểm tra.
Các phép tính trong bài đều là ví dụ giả định. Chúng không phải báo giá và cũng không phải chỉ dẫn giao dịch. Nếu có tranh chấp về trọng lượng hoặc tuổi vàng, người sở hữu cần yêu cầu kiểm định tại đơn vị có chức năng đo lường phù hợp hoặc hỏi cơ quan có thẩm quyền.
Với giá tại một thời điểm cụ thể, hãy tra nguồn niêm yết chính thức và kiểm tra rõ cột mua vào, bán ra, đơn vị tính cùng loại sản phẩm. Hai món cùng ghi 18K vẫn có thể được báo khác nhau do tiền công, đá và chính sách thu lại.
Hỏi nhanh
Vàng ta có phải luôn là vàng 9999 không?
Không hẳn. Vàng ta là cách gọi chung cho vàng gần nguyên chất. Trên thị trường có thể gặp dấu 999, tương ứng 99,9%, hoặc 9999, tương ứng 99,99%. Cần đọc đúng ký hiệu trên sản phẩm và chứng từ.
Vàng tây đeo hằng ngày có bền hơn không?
Thông thường có. Vàng 18K và 14K cứng hơn vàng gần nguyên chất nên giữ hình, giữ chấu và chịu va chạm tốt hơn. Độ bền thực tế còn phụ thuộc độ dày, kiểu khóa, mối hàn và cách sử dụng.
Khi bán lại, vàng ta hay vàng tây mất ít hơn?
Vàng ta dạng đơn giản, tuổi rõ và tiền công thấp thường mất ít hơn theo tỷ lệ số tiền ban đầu. Vàng tây thường mất thêm tiền công và phần giá của đá. Kết quả cụ thể vẫn phải tính theo bảng giá, tuổi vàng và chính sách thu lại tại thời điểm bán.
Xem bảng giá vàng, bạc và tỷ giá mới nhất, cập nhật 15 phút một lần.
Mở bảng giá hôm nay →