Bảo hiểm tiền gửi là gì, được đền bao nhiêu?
Mức bảo hiểm tiền gửi hiện hành
Muốn xem số thật trước khi đọc tiếp? Bảng giá cập nhật 15 phút một lần.
Mở bảng giá hôm nay →Nói ngắn gọn, bảo hiểm tiền gửi là cơ chế bảo vệ cá nhân có tiền gửi khi tổ chức nhận tiền gửi rơi vào trường hợp phải chi trả bảo hiểm theo quy định pháp luật. Người gửi không phải tự mua hợp đồng bảo hiểm và không đóng phí riêng. Tổ chức nhận tiền gửi có trách nhiệm nộp phí vào hệ thống bảo hiểm tiền gửi.
Hạn mức đã thay đổi theo từng giai đoạn:
| Thời gian áp dụng | Hạn mức thông thường |
|---|---|
| 05/08/2017 đến 11/12/2021 | 75 triệu đồng |
| 12/12/2021 đến 12/07/2026 | 125 triệu đồng |
| Từ 13/07/2026 | 350 triệu đồng |
Vì vậy, thông tin “hiện được bảo hiểm tối đa 125 triệu đồng” là thông tin cũ. Khi đọc một bài hướng dẫn, cần nhìn cả ngày cập nhật chứ không chỉ nhìn con số.
Cơ chế bảo hiểm tiền gửi hoạt động thế nào?
Các tổ chức được phép nhận tiền gửi của cá nhân và thuộc diện tham gia bảo hiểm tiền gửi phải tham gia theo quy định. Phí do tổ chức đó nộp, được tập hợp vào nguồn dùng để bảo vệ người gửi tiền và xử lý các tình huống thuộc phạm vi pháp luật.
Tiền không được trả chỉ vì có tin đồn, ứng dụng tạm ngừng, một phòng giao dịch đóng cửa hoặc người gửi chưa rút được tiền trong vài giờ. Nghĩa vụ chi trả chỉ phát sinh khi có căn cứ chính thức, chẳng hạn phương án phá sản được phê duyệt hoặc cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản xác định tình trạng thuộc diện chi trả.
Theo quy trình hiện hành, thời hạn chi trả tối đa là 45 ngày kể từ thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. Trước đó còn có các bước chuyển hồ sơ, kiểm tra dữ liệu và công bố địa điểm, thời gian, phương thức nhận tiền.
Cơ chế này có 2 lớp cần phân biệt:
- Tổ chức nhận tiền gửi có nghĩa vụ hoàn trả tiền theo hợp đồng trong hoạt động bình thường.
- Bảo hiểm tiền gửi chỉ được kích hoạt khi xuất hiện sự kiện pháp lý thuộc phạm vi bảo hiểm.
Hạn mức không tính riêng cho mỗi sổ vì tất cả sổ tại cùng một tổ chức đều là nghĩa vụ của cùng một pháp nhân. Việc mở thêm 2, 5 hay 10 sổ không tạo thành 2, 5 hay 10 quyền bảo hiểm độc lập.
Ai được bảo hiểm?
Đối tượng được bảo hiểm là cá nhân có tiền gửi hợp lệ tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi. Tài khoản đứng tên công ty, hợp tác xã, hội, quỹ hoặc tổ chức khác không được chuyển thành tiền gửi của cá nhân chỉ vì người đại diện là một người cụ thể.
Phạm vi cơ bản được nhận biết như sau:
| Khoản tiền | Có thuộc phạm vi cơ bản? | Điều kiện chính |
|---|---|---|
| Tiền gửi tiết kiệm | Có | Bằng đồng Việt Nam, đứng tên cá nhân |
| Tiền gửi có kỳ hạn | Có | Gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm |
| Tiền gửi không kỳ hạn | Có | Phải là khoản tiền gửi hợp pháp |
| Chứng chỉ tiền gửi | Có | Đứng tên cá nhân, bằng đồng Việt Nam |
| Tiền gửi của doanh nghiệp | Không | Chủ tài khoản là tổ chức |
| Tiền gửi bằng ngoại tệ | Không | Luật chỉ bảo hiểm tiền gửi bằng đồng Việt Nam |
| Cổ phiếu, trái phiếu | Không | Đây không phải tiền gửi |
| Vàng giữ hộ hoặc sản phẩm đầu tư | Không | Không phải tiền gửi bằng đồng Việt Nam |
Tiền gửi trực tuyến và tiền gửi tại quầy không bị phân biệt chỉ vì cách mở sổ khác nhau. Điều quan trọng là bản chất sản phẩm, đồng tiền gửi, người đứng tên và tư cách tham gia bảo hiểm của tổ chức nhận tiền.
Đối với ngoại tệ, việc quy đổi sang đồng Việt Nam để xem giá trị không làm khoản ngoại tệ trở thành tiền gửi được bảo hiểm. Người đọc có thể xem tỷ giá hiện hành để đối chiếu giá trị, nhưng phạm vi bảo hiểm vẫn được xác định theo loại tiền gửi ban đầu.
Những khoản tiền gửi bị loại trừ
Không phải mọi khoản tiền gửi bằng đồng Việt Nam của cá nhân đều được bảo hiểm. Luật hiện hành loại trừ một số trường hợp đặc biệt:
- Tiền gửi của cá nhân sở hữu trên 5% vốn điều lệ của chính tổ chức tín dụng đó.
- Tiền gửi của cá nhân và người có liên quan khi quan hệ sở hữu thuộc trường hợp bị loại trừ theo luật.
- Tiền gửi của người quản lý, người điều hành hoặc thành viên ban kiểm soát tại chính tổ chức tín dụng mà người đó làm việc.
- Tiền gửi của giám đốc hoặc phó giám đốc tại chính chi nhánh ngân hàng nước ngoài do người đó điều hành.
- Tiền gửi tiết kiệm bắt buộc tại tổ chức tài chính vi mô.
- Tiền mua giấy tờ có giá vô danh, tức giấy tờ không ghi rõ người sở hữu.
Các ngoại lệ này tồn tại vì người có quyền sở hữu lớn hoặc quyền quản lý có mức độ tiếp cận và ảnh hưởng khác với người gửi tiền thông thường. Với giấy tờ vô danh, cơ quan chi trả cũng không thể chỉ dựa vào việc ai đang cầm giấy để xác định chắc chắn chủ sở hữu hợp pháp.
Tiền bị mất do lừa đảo, lộ mật khẩu, chuyển nhầm hoặc giả mạo giao dịch cũng không phải sự kiện bảo hiểm tiền gửi. Đó là tranh chấp giao dịch và trách nhiệm hoàn trả phải được xác định theo hồ sơ riêng.
Cách tính khi có nhiều sổ tại cùng một nơi
Cách tính cơ bản gồm 5 bước:
- Bước 1: Xác định tất cả tài khoản và sổ thuộc cùng một tổ chức pháp lý.
- Bước 2: Cộng tiền gốc của mọi khoản tiền gửi được bảo hiểm.
- Bước 3: Cộng tiền lãi phát sinh đến thời điểm nghĩa vụ chi trả xuất hiện.
- Bước 4: Nếu người gửi có khoản nợ tại cùng tổ chức, lấy tiền gửi được bảo hiểm trừ khoản nợ theo hồ sơ.
- Bước 5: So sánh kết quả với hạn mức 350 triệu đồng và lấy số thấp hơn trong trường hợp áp dụng hạn mức thông thường.
Ví dụ sau dùng số giả định, không phải lãi suất hay số tiền chi trả của một vụ việc thực tế:
| Khoản tại cùng 1 tổ chức | Tiền gốc | Lãi giả định |
|---|---|---|
| Sổ số 1 | 120 triệu | 6 triệu |
| Sổ số 2 | 150 triệu | 8 triệu |
| Tiền gửi không kỳ hạn | 75 triệu | 1 triệu |
| Tổng | 345 triệu | 15 triệu |
Tổng tiền thuộc diện tính bảo hiểm là:
345 triệu + 15 triệu = 360 triệu đồng.
Dù có 3 khoản khác nhau, mức chi trả thông thường vẫn tối đa 350 triệu đồng, không phải 3 lần 350 triệu đồng. Phần chênh giữa tổng số dư 360 triệu và hạn mức thông thường là 10 triệu đồng.
Nếu người này còn nợ chính tổ chức đó 40 triệu đồng, số làm căn cứ sau khi trừ nợ sẽ là:
360 triệu - 40 triệu = 320 triệu đồng.
Vì 320 triệu thấp hơn 350 triệu, số chi trả theo ví dụ sẽ là 320 triệu đồng. Loại nợ, số nợ và thời điểm chốt nợ thực tế phải dựa trên hồ sơ chính thức, không thể chỉ lấy con số đang hiển thị trên ứng dụng.
Khi tự ước lượng tiền lãi của nhiều sổ, có thể dùng công cụ tính lãi tiết kiệm. Kết quả công cụ chỉ giúp kiểm tra phép tính; số lãi dùng để chi trả vẫn do cơ quan có trách nhiệm xác định tại đúng thời điểm pháp lý.
Vì sao người gửi nhiều tiền thường chia ra vài tổ chức?
Hạn mức được tính theo một người tại một tổ chức, không tính chung toàn hệ thống. Vì vậy, các khoản ở 2 tổ chức pháp lý độc lập có 2 hạn mức riêng.
Bảng sau dùng tổng tiền gốc giả định là 600 triệu đồng, tạm coi lãi bằng 0 và không có khoản nợ để nhìn rõ cách áp dụng hạn mức:
| Cách phân bổ giả định | Số tổ chức | Tổng trong hạn mức thông thường |
|---|---|---|
| 600 triệu tại một nơi | 1 | 350 triệu |
| 300 triệu tại mỗi nơi | 2 | 600 triệu |
| 250 triệu, 250 triệu và 100 triệu | 3 | 600 triệu |
Đây là lý do một số người phân tán tiền gửi. Tuy nhiên, bảng chỉ minh họa cơ chế bảo hiểm, không phải hướng dẫn lựa chọn nơi gửi. Kỳ hạn, khả năng rút trước hạn, cách quản lý tài khoản, lãi phát sinh và điều kiện của từng sản phẩm vẫn khác nhau.
Cũng cần nhìn đúng khái niệm “tổ chức”. Gửi tại 2 chi nhánh của cùng một ngân hàng vẫn là gửi tại 1 tổ chức. Mở một sổ trực tuyến và một sổ tại quầy cũng không tạo thành hai hạn mức. Ngược lại, hai tổ chức có thương hiệu gần giống nhau chưa chắc là một pháp nhân; phải kiểm tra thông tin pháp lý và chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi.
Trường hợp đặc biệt dễ tính sai
Tiền gửi có nhiều người cùng sở hữu: Số tiền được phân chia theo thỏa thuận hợp pháp của các đồng chủ sở hữu. Phần của mỗi người còn phải cộng với các khoản tiền gửi riêng của chính người đó tại cùng tổ chức rồi mới so với hạn mức.
Ví dụ giả định, một khoản tiền gửi chung 400 triệu đồng thuộc về 2 người theo tỷ lệ 50% và 50%. Mỗi người được xác định có phần 200 triệu đồng. Nếu người thứ nhất còn có sổ riêng gồm gốc và lãi là 180 triệu đồng tại cùng nơi, tổng phần của người này là 380 triệu đồng. Trong trường hợp áp dụng hạn mức thông thường, người thứ nhất bị giới hạn ở 350 triệu đồng; người thứ hai có phần 200 triệu đồng.
Có khoản nợ tại cùng tổ chức: Tiền gửi được bảo hiểm được xác định sau khi trừ khoản nợ. Vì thế, chỉ cộng các sổ rồi chặn ở 350 triệu đồng có thể cho ra kết quả sai.
Mất sổ giấy: Mất sổ không đồng nghĩa mất quyền sở hữu khoản tiền. Người gửi vẫn phải có giấy tờ hoặc dữ liệu chứng minh quyền sở hữu hợp pháp khi nhận tiền. Phần thủ tục xử lý được trình bày riêng trong bài mất sổ tiết kiệm phải làm gì.
Hạn mức đặc biệt: Trong một số tình huống được luật quy định, cơ quan có thẩm quyền có thể quyết định mức chi trả vượt hạn mức thông thường, tối đa bằng toàn bộ khoản tiền gửi được bảo hiểm. Đây là quyết định riêng cho trường hợp đặc biệt, không mặc nhiên áp dụng cho mọi vụ việc.
Thừa kế hoặc ủy quyền: Người nhận thay, người thừa kế hoặc người đại diện phải xuất trình đủ căn cứ pháp lý. Quan hệ gia đình tự nó chưa đủ để xác định ai có quyền nhận tiền.
Phần vượt hạn mức có mất hẳn không?
Không thể kết luận như vậy.
Giả sử tổng gốc và lãi thuộc diện bảo hiểm là 500 triệu đồng. Theo hạn mức thông thường, bảo hiểm tiền gửi chi trả tối đa 350 triệu đồng. Phần 150 triệu đồng còn lại nằm ngoài mức chi trả thông thường của bảo hiểm tiền gửi.
Phần vượt này có thể được xử lý trong quá trình giải quyết tài sản, nghĩa vụ nợ hoặc phương án xử lý tổ chức tín dụng theo quy định áp dụng cho vụ việc. Trong trường hợp đặc biệt, hạn mức cũng có thể được quyết định cao hơn. Tuy nhiên, không thể biết trước người gửi sẽ nhận thêm bao nhiêu và vào thời điểm nào nếu chưa có quyết định chính thức.
Vì vậy, “không nằm trong hạn mức thông thường” khác với “mất ngay toàn bộ”. Bảo hiểm tiền gửi chỉ là một lớp bảo vệ có giới hạn; nó không thay thế toàn bộ quy trình xử lý tổ chức gặp sự cố.
Hiểu lầm hay gặp
“Mỗi sổ được bảo hiểm 350 triệu đồng.” Sai. Hạn mức tính trên tổng gốc và lãi của tất cả khoản tiền gửi được bảo hiểm của 1 người tại 1 tổ chức. Có 4 sổ, mỗi sổ 200 triệu, vẫn không thành hạn mức 1,4 tỷ đồng.
“Hạn mức hiện hành vẫn là 125 triệu đồng.” Sai tại thời điểm tháng 09/2026. Mức 125 triệu đồng đã áp dụng từ 12/12/2021 đến hết 12/07/2026. Từ 13/07/2026, mức thông thường là 350 triệu đồng.
“Bất cứ sản phẩm nào xuất hiện trong ứng dụng ngân hàng đều được bảo hiểm.” Sai. Cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư, vàng, ngoại tệ và các sản phẩm liên kết không tự biến thành tiền gửi được bảo hiểm chỉ vì được mua trên cùng một ứng dụng.
Ranh giới cần tra nguồn chính thức
Các phép tính trong bài giúp hiểu nguyên tắc, nhưng không thay thế kết quả xác minh hồ sơ. Số tiền thực tế còn phụ thuộc vào loại sản phẩm, tiền lãi đến ngày phát sinh nghĩa vụ chi trả, khoản nợ, quyền sở hữu chung và tình trạng pháp lý của tổ chức nhận tiền.
Người gửi cần tra thông báo của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước khi có vụ việc cụ thể. Tổ chức nhận tiền gửi cũng phải công khai thông tin tham gia bảo hiểm tại các điểm giao dịch và trên các kênh được quy định.
Các trường hợp có tranh chấp thừa kế, tranh chấp đồng sở hữu, số dư bị phong tỏa, dữ liệu không khớp hoặc khoản nợ chưa thống nhất cần hỏi trực tiếp cơ quan có thẩm quyền. Không thể dùng một bảng tính chung để kết luận quyền nhận tiền trong các trường hợp đó.
Hỏi nhanh
Có 2 sổ, mỗi sổ 300 triệu đồng tại cùng một ngân hàng thì được trả 600 triệu đồng không?
Không. Hai sổ được cộng chung với tiền lãi. Nếu áp dụng hạn mức thông thường, tổng mức chi trả tối đa là 350 triệu đồng cho người đó tại tổ chức ấy.
Tiền gửi bằng ngoại tệ có được bảo hiểm không?
Không thuộc phạm vi cơ bản của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Phạm vi hiện hành là tiền gửi bằng đồng Việt Nam của cá nhân tại tổ chức tham gia bảo hiểm, trừ các trường hợp bị loại trừ.
Ai phải đóng phí bảo hiểm tiền gửi?
Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đóng phí. Cá nhân gửi tiền không phải mua thêm một hợp đồng riêng và không bị thu một khoản phí bảo hiểm riêng trên từng sổ.
Xem bảng giá vàng, bạc và tỷ giá mới nhất, cập nhật 15 phút một lần.
Mở bảng giá hôm nay →