Bảng Giá Tài ChínhCập nhật tự động
📅 2026-09-10 · đọc khoảng 13 phút

Quy định nhnn về tiền gửi tiết kiệm? Giải thích dễ hiểu kèm ví dụ

Quy định của NHNN nói gì?

Tính đến 02/10/2026, văn bản chính về tiền gửi tiết kiệm là Thông tư 48/2018/TT-NHNN. Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi có thể tự giao dịch nếu có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi cũng có thể tự gửi nếu đáp ứng điều kiện của thông tư. Lãi và việc rút trước hạn phụ thuộc thỏa thuận, trong giới hạn NHNN quy định. Tiền gửi được bảo hiểm có hạn mức chi trả 350 triệu đồng cho một người tại một tổ chức, gồm cả gốc và lãi, từ 13/07/2026.

Muốn xem số thật trước khi đọc tiếp? Bảng giá cập nhật 15 phút một lần.

Mở bảng giá hôm nay →

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, viết tắt là NHNN, đặt ra khung chung: ai được gửi, cách xác nhận khoản tiền, cách tính lãi và nguyên tắc chi trả. Mỗi tổ chức nhận tiền gửi còn có điều kiện cụ thể cho từng sản phẩm. Vì vậy, khi đọc một quy định, cần phân biệt điều NHNN bắt buộc với điều đã ghi trong thỏa thuận gửi tiền của mình.

Ai được gửi tiết kiệm, và gửi ở đâu?

Theo Điều 3 và Điều 4 Thông tư 48/2018/TT-NHNN, người gửi tiết kiệm theo thông tư này là công dân Việt Nam. Người từ đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự được tự giao dịch. Người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi được tự giao dịch nếu không bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự. Người chưa đủ 15 tuổi, hoặc thuộc trường hợp pháp luật yêu cầu đại diện, giao dịch thông qua người đại diện theo pháp luật.

Ví dụ, một bé 12 tuổi có thể có khoản tiết kiệm đứng tên mình, nhưng việc gửi và rút phải qua người đại diện hợp pháp. Nếu người lớn gửi vào khoản đứng tên chính người lớn, không thể chỉ dựa vào việc “tiền dành cho con” để kết luận bé là chủ khoản tiền. Khi làm thủ tục, cần nhìn tên người gửi và thông tin người đại diện trên chứng từ.

Thông tư 48 liệt kê các loại tổ chức có thể nhận tiền gửi tiết kiệm, gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Từng tổ chức chỉ được nhận tiền trong phạm vi giấy phép của mình. Một ứng dụng tự gọi sản phẩm là “tiết kiệm” chưa đủ để xác định đó là tiền gửi tiết kiệm theo quy định này.

Người nước ngoài không thuộc nhóm người gửi tiết kiệm của Thông tư 48. Họ có thể gặp sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn theo quy định riêng tại Thông tư 49/2018/TT-NHNN. Hai tên gọi gần nhau nhưng không nên dùng thay thế khi kiểm tra điều kiện mở khoản tiền.

Mở sổ tại quầy hay gửi qua ứng dụng khác nhau thế nào?

Khi mở khoản tiết kiệm tại quầy, người gửi trực tiếp xuất trình giấy tờ xác minh thông tin. Nếu gửi chung, tất cả người cùng gửi phải trực tiếp xuất trình giấy tờ của mình. Nếu giao dịch qua người đại diện, tổ chức nhận tiền kiểm tra thêm giấy tờ chứng minh tư cách đại diện. Đây là cách họ đối chiếu người giao dịch với người có quyền đối với khoản tiền; Điều 12 Thông tư 48 quy định thủ tục này.

Sau khi hoàn tất, tổ chức nhận tiền giao thẻ hoặc sổ tiết kiệm. Theo Điều 7, trên đó phải có các thông tin quan trọng như tên người gửi, số tiền, đồng tiền, ngày gửi, ngày đến hạn nếu có kỳ hạn, lãi suất, cách trả lãi và cách tra cứu khoản tiền. Hãy kiểm tra các mục này ngay lúc nhận. Một sai khác ở tên hoặc ngày đến hạn có thể khiến việc đối chiếu sau này mất thêm thời gian.

Gửi bằng phương tiện điện tử được Thông tư 48 cho phép. Tổ chức nhận tiền hướng dẫn việc gửi và chi trả thông qua tài khoản thanh toán của người gửi tại chính tổ chức đó, đồng thời phải lưu thông tin giao dịch để người gửi tra soát. Vì khoản tiền được ghi nhận bằng dữ liệu điện tử, gửi qua ứng dụng không nhất thiết có sổ giấy. Người gửi vẫn cần kiểm tra xác nhận giao dịch, số tiền, kỳ hạn và tên chủ khoản tiền trong ứng dụng chính thức.

NHNN không ấn định một số tiền gửi tối thiểu chung cho mọi sản phẩm. Mức tối thiểu, kỳ hạn được cung cấp, nơi có thể rút sổ mở tại quầy và mức phí nếu có nằm trong quy định công khai của từng tổ chức. Điều 21 Thông tư 48 yêu cầu công khai lãi suất, phí nếu có, thủ tục giao dịch và cách xử lý sổ bị mất hoặc hư hỏng.

Lãi suất do ai quyết định, vì sao cùng số tiền lại ra lãi khác?

Điều 9 Thông tư 48 giao tổ chức nhận tiền quy định lãi suất phù hợp quy định NHNN từng thời kỳ. Với tiền gửi bằng đồng Việt Nam, Thông tư 48/2024/TT-NHNN, có hiệu lực từ 20/11/2024, chia cách quản lý lãi suất theo kỳ hạn: tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 6 tháng chịu mức tối đa do NHNN quyết định từng thời kỳ; kỳ hạn từ 6 tháng trở lên được áp dụng lãi suất trên cơ sở cung cầu vốn thị trường.

Vì thế không có một “lãi suất tiết kiệm NHNN” áp giống nhau cho mọi sổ. Ngay trong cùng một tổ chức, lãi nhận được còn phụ thuộc số ngày thực gửi, cách trả lãi và điều khoản gia hạn. Mức lãi niêm yết thường ghi theo năm; gửi vài tháng không có nghĩa là nhận trọn lãi của một năm.

Theo Thông tư 14/2017/TT-NHNN, cách tính lãi dùng để minh bạch, đối chiếu dựa trên số dư thực tế, lãi suất năm và số ngày tính lãi; một năm được quy đổi thành 365 ngày. Với số dư không đổi, có thể ước tính: tiền lãi = tiền gốc × lãi suất năm × số ngày tính lãi ÷ 365. Tháng ngắn, tháng dài và ngày bắt đầu tính lãi có thể làm kết quả khác phép nhẩm “lãi năm chia 12”. Bạn có thể nhập thông số của mình vào công cụ tính lãi tiết kiệm để tự đối chiếu, rồi xem phương pháp tính lãi mà tổ chức nhận tiền công khai.

Ví dụ tính lãi và rút trước hạn

Toàn bộ số trong ví dụ này là giả định, không phải lãi suất đang niêm yết. Giả sử gửi 120.000.000 đồng, lãi 6%/năm, thời gian đúng 180 ngày, trả lãi cuối kỳ. Giả sử thêm rằng tổ chức nhận tiền cho phép rút một phần trước hạn và lãi áp dụng cho phần rút sớm là 0,2%/năm. Một kỳ hạn ghi bằng tháng trên thực tế không phải lúc nào cũng đúng 180 ngày.

Tình huống giả địnhPhép tínhTiền lãi làm tròn
Giữ đủ 120 triệu trong 180 ngày120 triệu × 6% × 180 ÷ 3653.550.685 đồng
Rút 20 triệu sau 90 ngày20 triệu × 0,2% × 90 ÷ 3659.863 đồng
Giữ 100 triệu còn lại đủ 180 ngày100 triệu × 6% × 180 ÷ 3652.958.904 đồng
Rút toàn bộ 120 triệu sau 90 ngày120 triệu × 0,2% × 90 ÷ 36559.178 đồng

Nếu được rút 20 triệu sau 90 ngày, tổng lãi của hai phần trong giả định là khoảng 2.968.767 đồng: phần rút sớm nhận lãi thấp, còn 100 triệu để đến hạn vẫn tính theo lãi đang áp dụng cho khoản tiền gửi đó. Nếu rút toàn bộ sau 90 ngày, phép tính giả định chỉ còn 59.178 đồng tiền lãi.

Cơ chế này đến từ Thông tư 04/2022/TT-NHNN: khi rút trước hạn toàn bộ, lãi suất áp dụng tối đa bằng mức lãi không kỳ hạn thấp nhất phù hợp của tổ chức đó tại thời điểm rút. Khi rút trước hạn một phần, giới hạn ấy áp cho phần rút; phần còn lại tiếp tục hưởng mức lãi đang áp dụng cho khoản tiền gửi. Mức 0,2% trong bảng chỉ được đặt ra để thấy cách tính; muốn biết số thật phải kiểm tra lãi suất và thỏa thuận của khoản tiền cụ thể.

Đến hạn, tự gia hạn và rút tiền cần chú ý gì?

Rút trước hạn không chỉ là bài toán lãi. Theo Điều 17 Thông tư 48, việc rút thực hiện theo thỏa thuận khi gửi tiền. Quy định của từng hình thức tiết kiệm phải nêu cách rút trước hạn và trường hợp cần báo trước. Do đó, trước khi tính mình sẽ nhận bao nhiêu, cần kiểm tra sản phẩm có cho rút một phần hay không, có yêu cầu báo trước không và lãi đã trả định kỳ sẽ được xử lý thế nào.

Đến ngày đáo hạn, tức ngày kết thúc kỳ gửi, Điều 15 Thông tư 48 quy định: nếu người gửi không rút và không có yêu cầu hoặc thỏa thuận khác, tổ chức nhận tiền kéo dài thêm thời hạn mới theo quy định của hình thức tiết kiệm đó. Không mặc định lãi suất kỳ mới bằng kỳ cũ. Cũng cần xem lãi kỳ trước được trả ra tài khoản hay nhập vào gốc để bắt đầu kỳ mới; hai cách cho kết quả khác nhau.

Với sổ mở tại quầy, khi rút tiền người gửi xuất trình sổ, giấy tờ xác minh và làm giấy rút tiền theo thủ tục. Gửi chung thì việc xác minh liên quan tới tất cả người gửi. Nếu người đứng tên không thể trực tiếp nhận, trường hợp ủy quyền hoặc thừa kế có thủ tục riêng; tổ chức nhận tiền phải kiểm tra giấy tờ chứng minh quyền nhận tiền trước khi chi trả.

Bảo hiểm tiền gửi bảo vệ đến đâu?

Đây là quy định khác với lãi suất và rút trước hạn. Theo Luật Bảo hiểm tiền gửi 111/2025/QH15, có hiệu lực từ 01/05/2026, tiền gửi được bảo hiểm về cơ bản là tiền gửi bằng đồng Việt Nam của cá nhân tại tổ chức tham gia bảo hiểm, trong đó có tiền gửi tiết kiệm, trừ những trường hợp luật loại trừ. Tiền gửi ngoại tệ không thuộc phạm vi này. Nếu đang xem khoản ngoại tệ, tỷ giá giúp bạn hiểu số tiền quy đổi, nhưng việc quy đổi không biến khoản ngoại tệ thành tiền gửi được bảo hiểm.

Theo Thông tư 05/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ 13/07/2026, hạn mức chi trả thông thường là 350 triệu đồng, tính cho toàn bộ tiền gửi được bảo hiểm của một người tại một tổ chức tham gia bảo hiểm, gồm cả gốc và lãi, khi phát sinh nghĩa vụ chi trả bảo hiểm.

Ví dụ giả định một người có 2 sổ, mỗi sổ 200 triệu đồng, tại cùng 1 tổ chức. Tổng gốc là 400 triệu đồng. Hạn mức bảo hiểm thông thường vẫn là 350 triệu đồng cho người đó tại tổ chức ấy, không phải 350 triệu đồng mỗi sổ. Nếu có lãi, lãi cũng nằm trong tổng số dùng để xét hạn mức. Các điểm giao dịch khác nhau của cùng tổ chức không tạo thêm một hạn mức riêng.

Hạn mức bảo hiểm là mức tổ chức bảo hiểm tiền gửi chi trả khi xảy ra trường hợp luật quy định. Nó không có nghĩa khoản gửi trên 350 triệu đồng tự động biến mất, cũng không phải lời bảo đảm rằng mọi phần vượt hạn mức sẽ được trả ngay. Việc xử lý phần còn lại phụ thuộc quy trình giải quyết tổ chức nhận tiền và hồ sơ cụ thể. Với tiền gửi chung, khoản được bảo hiểm còn cần xác định phần quyền của từng người theo thỏa thuận và quy định áp dụng.

Trường hợp đặc biệt người mới dễ vướng

Hiểu lầm hay gặp

“NHNN ấn định một mức lãi cho mọi sổ.” Không đúng. NHNN đặt khung quản lý; với tiền gửi đồng Việt Nam kỳ hạn ngắn có mức lãi tối đa theo từng thời kỳ, còn lãi cụ thể phải xem mức công khai và thỏa thuận của tổ chức nhận tiền.

“Tách thành 2 sổ ở cùng nơi thì được bảo hiểm 2 lần.” Không đúng. Hạn mức 350 triệu đồng hiện tính theo một người tại một tổ chức, cộng các khoản tiền gửi đủ điều kiện cùng gốc và lãi, không đếm theo số sổ.

“Rút sớm một phần thì cả sổ đều mất lãi kỳ hạn.” Không đúng nếu khoản tiền cho phép rút một phần: quy định lãi rút trước hạn tách phần rút khỏi phần còn lại. Cần xem điều kiện của sản phẩm trước khi áp phép tính này.

Kiểm tra thông tin nào trước khi dùng một con số?

Các con số 350 triệu đồng, 365 ngày và ngưỡng kỳ hạn 6 tháng ở trên có nguồn và mốc thời gian nêu ngay trong bài. Còn lãi suất của một khoản gửi, mức phí, số ngày tính lãi, quyền rút một phần và cách gia hạn có thể khác theo sản phẩm hoặc thay đổi theo thời điểm. Kiểm tra bản niêm yết chính thức và xác nhận giao dịch của tổ chức nhận tiền, cùng văn bản hiện hành trên cổng NHNN hoặc Công báo. Có thể dùng trang công cụ để thử phép tính, nhưng kết quả chi trả phải đối chiếu với thỏa thuận và dữ liệu giao dịch.

Bài này giải thích quy định chung, không thể xác định ai có quyền nhận tiền trong một vụ ủy quyền, thừa kế, tranh chấp sổ chung hay một trường hợp thuộc diện loại trừ bảo hiểm khi chưa xem hồ sơ. Với các việc đó, hãy yêu cầu tổ chức nhận tiền giải thích bằng văn bản; nếu còn tranh chấp, hỏi cơ quan có thẩm quyền. Bạn có thể tìm thêm các bài giải thích thuật ngữ tại mục bài viết.

Hỏi nhanh

NHNN có quy định phải gửi tối thiểu bao nhiêu tiền không?

Thông tư 48/2018/TT-NHNN không đặt một mức tối thiểu chung cho mọi khoản tiết kiệm. Xem điều kiện công khai của sản phẩm định mở.

Gửi tiết kiệm online có cần sổ giấy không?

Không nhất thiết. Điều 19 Thông tư 48 cho phép nhận và chi trả bằng phương tiện điện tử, đồng thời yêu cầu tổ chức nhận tiền lưu dữ liệu để người gửi tra soát. Hãy giữ xác nhận giao dịch và kiểm tra khoản tiền trong kênh chính thức.

Rút đúng ngày đến hạn có bị tính lãi rút trước hạn không?

Ngày đến hạn không phải là rút trước hạn. Khoản được chi trả theo điều kiện đến hạn đã thỏa thuận. Nếu ngày đó không rút, hãy xem điều khoản gia hạn vì khoản tiền có thể bắt đầu một kỳ mới.

Xem bảng giá vàng, bạc và tỷ giá mới nhất, cập nhật 15 phút một lần.

Mở bảng giá hôm nay →